Hành chính nhà nước thời kỳ xây dựng và phát triển quốc gia phong kiến

Chỉ có tính chân thực và sự công bằng

mới tạo nên sự hấp dẫn của sử học.

Không có nó, những tri thức lịch sử sẽ trở

thành một thứ khổ sai trí nhớ.

Dương Trung Quốc

 

ppt76 trang | Chia sẻ: Mr Hưng | Ngày: 05/09/2016 | Lượt xem: 78 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang nội dung tài liệu Hành chính nhà nước thời kỳ xây dựng và phát triển quốc gia phong kiến, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phần thứ haiHÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THỜI KỲ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN QUỐC GIA PHONG KIẾNDân ta phải biết sử taCho tường gốc tích nước nhà Việt NamHồ Chí MinhCây có gốc mới nẩy cành xanh ngọnNước có nguồn mới biển rộng sông sâuChúng ta nguồn gốc từ đâuCó tổ tiên trước về sau có mìnhCa daoChỉ có tính chân thực và sự công bằngmới tạo nên sự hấp dẫn của sử học.Không có nó, những tri thức lịch sử sẽ trởthành một thứ khổ sai trí nhớ.Dương Trung QuốcSự hiểu biết và thông tuệ lịch sử giúp íchmạnh mẽ cho hành động chính trịFrancois Mitterrand Cựu Tổng thống PhápTừ thế kỷ XĐến thế kỷ XVTHỜI ĐẠI TỰ CHỦ(thời kỳ thống nhất)Hành chính Nhà nước từ thế kỷ X đến thế kỷ XVCNCHƯƠNG III HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XVĐây là thời kỳ hình thành và xây dựng nhà nước Phong kiến quân chủ độc lậpHành chính Nhà nước giai đoạn thành lập và củng cố chính quyền tự chủ (thế kỷ thứ x)Họ Khúc dựng nghiệp và thực hiện những cải cách hành chính đầu tiênCuối thế kỷ thứ IX, sau khi đánh bại Phùng An, quan lại nhà Đường sang cai trị nước ta càng tham tàn, độc ác. Hai lần quân Nam Chiếu xâm chiếm, giết hại hơn 15 vạn dân An Nam nhưng quan quân nhà Đường đều bỏ chạy.Họ Khúc dựng nghiệp và thực hiện những cải cách hành chính đầu tiênNăm Giáp Thân (864), Cao Biền đem đại binh sang đánh mới đuổi được quân Nam Chiếu. Vua Đường phong cho Cao Biền làm Tiết độ sứ và đổi An Nam đô hộ Phủ thành Tĩnh Hải quận Tiết tuấn. Cao Biền cho đắp thành Đại La bên sông Tô Lịch.Họ Khúc dựng nghiệp và thực hiện những cải cách hành chính đầu tiênNăm 905, Khúc Thừa Dụ đang làm Hòa Trưởng đất Hồng Châu (Ninh Giang-Hải Dương) đã tổ chức lực lượng tiến đánh thành Tống Bình (Hà Nội), quân Đường thua to chạy về nước. Họ Khúc dựng nghiệp và thực hiện những cải cách hành chính đầu tiênKhúc Thừa Dụ chiếm phủ thành, tự xưng là Tiết độ sứ. tuy nhiên ông vẫn khéo léo giữ nguyên bộ máy và danh nghĩa chính quyền cũ để xin “triều đình” cho quyền độc lập thực tế, xóa bỏ thực chất chính quyền đô hộ. nhà Đường buộc phải công nhận Khúc Thừa Dụ là người đứng đầu đất Việt.Năm Giáp Thân (864), Vua Đường phong cho Cao Biền làm Tiết độ sứ và đổi An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quận Tiết tuấn. Năm 905 Khúc Thừa Dụ chiếm phủ thành, tự xưng là Tiết độ sứNgày 7 tháng 2 năm bính dần (906), vua Đường phong cho Khúc Thừa Dụ chức Tĩnh Hải quận Tiết độ sứ, tước “Đông bình chương sự”.Họ Khúc dựng nghiệp và thực hiện những cải cách hành chính đầu tiênNgày 7 tháng 2 năm bính dần (906), vua Đường phong cho Khúc Thừa Dụ chức Tĩnh Hải quận Tiết độ sứ, tước “Đông bình chương sự”. Khúc Thừa Dụ là người đầu tiên sử dụng phép ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo với phong kiến phương Bắc.MỀM DẺOKHÔN KHÉO  với phong kiến phương BắcDùng phép ngoại giaoTừ năm 906Đến năm 923THỜI ĐẠI HỌ KHÚC(giành quyền độc lậpTự chủ của đất nước)Hành chính Nhà nước từ thế kỷ X đến thế kỷ XVCNHọ Khúc dựng nghiệp và thực hiện những cải cách hành chính đầu tiênVề hình thức, Khúc Thừa Dụ giữ nguyên bộ máy hành chính của chính quyền đô hộ, song thực chất bên trong, đó là một chính quyền độc lập của nước ta sau ngàn năm Bắc thuộc, quan lại người Trung Quốc đều bị bãi bỏ, các chức vụ đều thay thế bằng người ViệtGiữ nguyên bộ máy hành chính của chính quyền đô hộTổ chức các đơnvị hành chính ởTrung ương và địa phươngQuan lại người Trung Quốc đều bị bãi bỏ, các chức vụ đều thay thế bằng người ViệtTổ chức các đơnvị hành chính ởTrung ương và địa phươngTriều đình Nhà ĐườngChâuThứ SửChâuThứ SửHUYỆN(Huyện lệnh)HươngHương trưởngHUYỆN(Huyện lệnh)HUYỆN(Huyện lệnh)HươngHương trưởngHươngHương trưởngXãXã trưởngXãXã trưởngXãXã trưởngNgày 23 tháng 7 năm 907 (đinh mão) Khúc Hạo con trai Khúc Thừa Dụ lên thay.Ngày 01 tháng 9 năm Đinh Mão (907), nhà hậu Lương cũng phải công nhận Khúc Hạo là “An Nam đô hộ, sung tiết độ sứ”. để củng cố, xây dựng một nền tảng độc lập thống nhất của dân tộc, Khúc Hạo đã tiến hành một loạt các cải cách hành chính. Ngày 23 tháng 7 năm 907 (đinh mão) Khúc Hạo con trai Khuc Thừa Dụ lên thay.Ngày 01 tháng 9 năm Đinh Mão (907), nhà hậu Lương cũng phải công nhận Khúc Hạo là “An Nam đô hộ, sung tiết độ sứ”.Ngày 7 tháng 2 năm bính dần (906), vua Đường phong cho Khúc Thừa Dụ chức Tĩnh Hải quận Tiết độ sứ, tước “Đông bình chương sự”.Cải cách hành chínhKhúc Hạo thiết lập một hệ thống cai trị gồm 5 cấp: Lộ, Phủ, Châu, Giáp, Xã. Giáp và xã là cấp hành chính cơ sở đặt dưới sự cai quản của quản Giáp và Phó tư giáp (cấp giáp); chánh lệnh trưởng và tá lệnh trưởng (cấp xã). Như vậy, đến thời Khúc Hạo, cấp hành chính Hương thời nhà Đường đã được đổi thành cấp “Giáp”.LỘ(An Phủ Sứ)Phủ(Tri Phủ)PhủChâu(Tri Châu)Giáp(Quản giáp và Phó tư giáp )Châu(Tri Châu)Châu(Tri Châu)Giáp(Quản giáp và Phó tư giáp )Giáp(Quản giáp và Phó tư giáp )XãChánh lệnh trưởng và Tá lệnh trưởngXãChánh lệnh trưởng và Tá lệnh trưởngXãChánh lệnh trưởng và Tá lệnh trưởngAN NAMBỏ cấp HươngHương trưởngCấp Giáp(Quản giáp và Phó tư giáp )ThờiKhúc Hạo(Nhà Hậu Lương)Xã Chánh lệnh trưởng và Tá lệnh trưởngVề chính sách quản lý hành chínhKhúc Hạo sửa đổi lại chế độ điền tô, các loại thuế khóa nặng nề của Đô hộ phương Bắc đặt ra.Bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho Giáp trưởng trông coi, chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui.Chính sách quản lý hành chínhNăm 923 nhà Nam Hán sai tướng là Lý Khắc Chính đánh nước ta bắt Khúc Thừa Mỹ.Sai Lý Tiến làm Thứ sử nước ta.Năm 917 Khúc Hạo mất truyền ngôi cho con là Khúc Thừa MỹTừ năm 906Đến năm 923THỜI ĐẠI HỌ KHÚC(giành quyền độc lậpTự chủ của đất nước)Hành chính Nhà nước từ thế kỷ X đến thế kỷ XVCNHọ Dương khôi phục quyền tự chủ hành chính nước ta dưới triều NgôNăm tân Mão (931), Dương Đình Nghệ, là một tướng của Khúc Hạo ở đất Ái Châu (Thanh Hóa), mộ quân đánh đuổi Lý Khắc Chính và Lý Tiến, chiếm lại thành Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ, làm chủ đất nước trong 6 năm.Năm tân Mão (931), Dương Đình Nghệ chiếm lại thành Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ, làm chủ đất nước trong 6 năm.Từ năm 931Đến năm 936THỜI ĐẠI HỌ DƯƠNG(Khôi phục quyềnTự chủ của đất nước)CNHành chính Nhà nước từ thế kỷ X đến thế kỷ XVTIỀN NGÔ VƯƠNG (939-965) Năm kỹ-hợi (939) Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (thuộc huyện Đông Anh, tỉnh PhúcYên). Ngô Vương đặt quan chức, chế triều nghi, định Phục sắc và chỉnh đốn việc chính trị trong nước, chí muốn dựng nghiệp lâu dài, nhưng chỉ làm vua được có 6 năm, đến năm Giáp Thìn (944) thì mất, thọ 47 tuổi. Từ năm 939Đến năm 944Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ LoaCNHành chính Nhà nước từ thế kỷ X đến thế kỷ XVSau chiến thắng Bạch Đằng, đất nước ta lại được bình yên, độc lập. Ngô quyền bãi bỏ chức tiết độ sứ, tự xưng vương đống đô ở Cổ Loa. Để củng cố nền hành chính của Nhà nước độc lập, Ngô quyền đặt ra các chức quan văn võ, quy định lễ nghi triều chính, lập vợ là Dương Thị (con của Dương Đình Nghệ) làm Hoàng Hậu. Ngô quyền bãi bỏ chức tiết độ sứ, tự xưng vương đống đô ở Cổ LoaSau chiến thắng Bạch Đằng Ngô Quyền bắt tay xây dựng nền Hành chính để cai quản đất nước Năm (939) Ngô Quyền Bãi bỏ chức Tiết độ sứXưng Vương, đóng đô ở Cổ LoaNăm (907), nhà hậu Lương công nhận Khúc Hạo là “An Nam đô hộ, sung tiết độ sứ”.Năm (906) vua Đường phong cho Khúc Thừa Dụ chức Tĩnh Hải quận Tiết độ sứ. Năm (931) Dương Đình Nghệ chiếm thành Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ, làm chủ đất nước trong 6 năm.Sự nghiệp xây dựng đất nước đang tiến triển thì Ngô Quyền lâm bệnh, gửi gắm con trai là Ngô Xương Ngập kế vị mình cho em trai Dương Hậu là Dương Tam Kha rồi qua đời, thọ 47 tuổi Như vậy, nhà Ngô truyền được ba đời, 4 vua, kéo dài 26 năm. Đến Ngô Xương Xí thì nan 12 sứ quân nổi lên giành quyền lực, xâu xé nhau.THẬP NHỊ SỨ QUÂN (945-967) Từ khi Dương tam Kha tiếm vị rồi, những người thổ hào ở các nơi như bọn Trần Lãm, Kiểu công Hãn v.v... đều xướng lên độc lập, xưng là Sứ quân. Về sau Nam tấn vương đã khôi phục được nghiệp cũ, nhưng mà các sứ quân vẫn không chịu về thần phục. THẬP NHỊ SỨ QUÂN (945-967) Bởi vậy nhà vua cứ phải đi đánh dẹp mãi, mà không yên được. Đến khi Nam tấn vương bị giặc bắn chết, thì con Thiên sách vương là Ngô xương Xí lên nối nghiệp, nhưng thế nhà vua lúc ấy suy nhược lắm, không ai phục tùng nữa. Từ năm 945Đến năm 967THẬP NHỊ SỨ QUÂN (945-967)Hành chính Nhà nước từ thế kỷ X đến thế kỷ XVCNTHẬP NHỊ SỨ QUÂN (945-967) Tướng nhà Ngô là Đỗ cảnh-Thạc cũnggiữ một chỗ xưng là Sứ-quân. Lúc bấy giờ trong nước có cả thảy 12Sứ quân, gây ra cảnh nội loạn kéo dàiđến hơn 20 năm. Mười hai Sứ-quân là: THẬP NHỊ SỨ QUÂN (945-967)Ngô xương Xí giữ Bình-kiều (nay là làng Bình-kiều, phủ Khoái-châu, Hưng-yên). 2. Đỗ cảnh Thạc giữ Đỗ-động -giang (thuộc huyện Thanh-oai). 3. Trần Lãm, xưng là Trần Minh-công giữ Bố-hải-khẩu (Kỳ-bố, tỉnh Thái-bình). 4. Kiểu công Hãn, xưng là Kiểu Tam-chế giữ Phong-châu (huyện Bạch-hạc). THẬP NHỊ SỨ QUÂN (945-967) 5. Nguyễn Khoan, xưng là Nguyễn Thái-bình giữ Tam-đái (phủ Vĩnh Tường). 6. Ngô nhật Khánh, xưng là Ngô Lãm-công giữ Đường-lâm (Phúc-thọ, Sơn-tây). 7. Lý Khuê, xưng là Lý Lang-công giữ Siêu-loại (Thuận-thành). 8. Nguyễn thủ Tiệp, xưng là Nguyễn Lịnh-công giữ Tiên-du (Bắc-ninh). THẬP NHỊ SỨ QUÂN (945-967) 9. Lữ Đường, xưng là Lữ Tá-công giữ Tế-giang (Văn-giang, Bắc-ninh). 10. Nguyễn Siêu, xưng là Nguyễn Hữu-công giữ Tây-phù-liệt (Thanh-trì, Hà-đông). 11. Kiểu Thuận, xưng là Kiểu Lịnh-công giữ Hồi-hồ (Cẩm-khê, Sơn-tây). 12. Phạm bạch Hổ, xưng là Phạm Phòng át giữ Đằng-châu (Hưng-yên). THẬP NHỊ SỨ QUÂN (945-967) Những Sứ quân ấy cứ đánh lẫn nhau, làm cho dân gian khổ sở. Sau nhờ có ông Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư đem quân đi đánh, mới dẹp xong cái loạn sứ quân, đem giang sơn lại làm một mối,và lập nên cơ nghiệp nhà Đinh vậy. Nhà Đinh thống nhất đất nước, xây dựng triều đình. Năm Mậu thìn (968), Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế, lấy hiệu là Tiên Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình). Năm (939) Ngô Quyền Xưng Vương, đóng đô ở Cổ Loa. (AN NAM)Năm (968), Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế, lấy hiệu là Tiên Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình). Năm (931) Dương Đình Nghệ xưng là Tiết độ sứ, đóng đô thành Đại La. (AN NAM)NHÀ ĐINH (968-980) 1. Đinh Tiên Hoàng 2. Đinh Phế Đế Từ năm 968Đến năm 980NHÀ ĐINH (968-980)Quốc hiệu Đại Cồ ViệtĐinh Tiên-hoàng 2. Đinh Phế-đế Hành chính Nhà nước từ thế kỷ X đến thế kỷ XVCNVề xây dựng triều chínhĐinh Tiên Hoàng Đế xây dựng cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn, quan võ, phong cho Nguyễn Bặc là Đinh Quốc Công, Lê Hoàn làm thập đạo tướng quân, phong cho con trai là Đinh Liễn làm Nam Việt Vương, con thứ là Đinh Toàn làm Vệ Vương. Ngô Chân Lưu được hiệu là Khuông Việt Thái Sư.Hành chính ở nước ta thời đinh Đinh Tiên Hoàng CNĐóng đô HOA LƯNHÀ ĐINHQuốc hiệu Đại Cồ ViệtĐinh Tiên Hoàng 2. Đinh Phế-đế Từ năm 968Đến năm 980Kinh đôĐạo Phật được coi là Quốc giáo. Sư tăng có phẩm tước, một số sư được mời vào làm quan gọi là Tăng quan. Đứng đầu tăng quan là Đại sư.Tôn giáoĐinh Tiên Hoàng Đế đã coi trọng vai trò của quân đội trong việc bảo vệ đất nước. Về mặt quân sựĐinh Tiên Hoàng Đế đã xây dựng một bộ máy hành chính gắn liền với tổ chức quân sự như chính quyền quân quản.Đinh bộ lĩnh thiết lập lại các đơn vị hành chính, chia nước ra làm 10 “Đạo”. Theo tổ chức quân sự 10 đạo quân.Bộ máy hành chính Đinh Tiên Hoàng được phong là Giao chỉ Quận Vương và phong chi Đinh Liễn là Tĩnh Hải Vương tiết độ sứ An Nam đô hộ.Về lĩnh vực ngoại giaoViệc chính trị trong nước thì lúc bấy giờ còn có nhiều người quen thói lúc loạn, không chịu tuân theo luật-lệ. Tiên-hoàng phải dùng oai để trừng-trị những bọn gian-ác: đặt vạc dầu ở trước điện, nuôi hổ báo ở trong vườn, rồi hạ lệnh rằng hễ ai phạm tội thì bỏ vạc dầu hay là cho hổ báo ăn. Hình-luật uy-nghiêm như thế, thì cũng quá lắm, nhưng nhờ có những hình-luật ấy thì dân trong nước mới dần dần được yên Tiên Hoàng bỏ trưởng lập âú, cho đứa con út là Hạng Lang làm Thái tử. Con trưởng là Nam Việt Vương Liễn đã theo Tiên Hoàng đi trận mạc từ thủa hàn vi, nay không được ngôi Thái tử, lấy sự ấy làm tức giận bèn khiến người giết Hạng Lang đi. Ấy là gây nên mối loạn ở trong nhà. Năm kỹ-mão (979) vua Tiên-hoàng và Nam-việt-vương Liễn bị tên Đỗ Thích giết chết. Sử chép rằng tên Đỗ Thích trước làm lại, đêm nằm thấy sao rơi vào mồm, tưởng là triệu mình được làm vua, bèn định bụng làm sự thí- đoạt. Một hôm Đỗ Thích thấy Tiên-hoàng say rượu nằm trong cung, bèn lẻn vào giết Tiên-hoàng đi, rồi giết cả Nam-việt-vương Liễn. Tiên Hoàng làm vua được 12 năm, thọ được 56 tuổi. Đinh Phế-đế (979-980)Đình-thần tìm bắt được Đỗ Thích đem làm tội, và tôn Vệ vương Đinh Tuệ lên làm vua. Vệ vương mới có 6 tuổi lên làm vua, quyền chính ở cả Thập đạo tướng quân là Lê Hoàn. Lúc bấy giờ nhà Tống nghe tin Tiên hoàng đã mất, tự quân còn dại, muốn thừa thế sang lấy nước ta, mới hội đại binh ở gần biên giới. Bên ta được tin quân Tàu sắp sang, Lê Hoàn sai Phạm Cự Lượng làm đại tướng đem binh đi chống giữ. Trước khi khởi hành, Phạm Cự Lượng họp cả quân sĩ lại ở trong điện, rồi nói rằng: "Bây giờ quân nghịch sắp vào cõi, mà vua thì còn bé, lấy ai mà thưởng phạt cho chúng mình. Dẫu chúng mình có hết sức lập được chút công nào, thì rồi ai biết cho? Chi bằng nay ta tôn Thập đạo tướng quân lên làm vua rồi ra đánh thì hơn" Quân sĩ nghe nói đều hô vạn tuế. Thái hậu thấy quân sĩ thuận cả, mới sai lấy áo long cổn mặc vào cho Lê Hoàn. Lê Hoàn lên làm vua , giáng Đinh Tuệ xuống làm Vệ vương, sử gọi là Phế đế. Nhà Đinh làm vua được 2 đời, cả thảy là 14 năm. NHÀ TIỀN LÊ (980-1009) Lê Đại Hành Phá quân nhà Tống Đánh Chiêm Thành Sửa sang trong nước Lê Trung Tông Lê Long Đĩnh Từ năm 980Đến năm 1009NHÀ TIỀN LÊ (980-1009)Quốc hiệu Đại Cồ Việt Hành chính Nhà nước từ thế kỷ X đến thế kỷ XVCNLê Đại Hành (980-1005) Niên hiệu là Thiên phúc, Hưng thống (989-993), và Ứng thiên (994-1005). Hành chính nhà nước thời tiền Lê (980-1009) Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế lấy hiệu là Đại Hành Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thiên Phúc. Dương Vân Nga trở thành Hoàng hậu, được phong là Đại Thắng Minh hoàng hậu. Sau đại thắng quân Tống xâm lược, năm Tân Tị (981) Lê Hoàn không chậm trễ đốc thúc xây dựng và củng cố đất nước.Về đối nộiTiến hành dẹp các loạn cát cứ, xây dựng cơ sở của nền kinh tế, đào sông ngòi, phát triển giao thông và dẫn thủy nhập điền.Về đối ngoạiDùng chính sách mền dẻo, khôn khéo, nhưng kiên quyết đối với phong kiến Phương Bắc để bảo vệ nền độc lập cho đất nước. Tiến hành chinh phạt Chiêm Thành, bắt vua Chiêm Thành phải Thần phục, triều cúng để yên bờ cõi phía Nam.Lê Hoàn tổ chức lại và củng cố các đơn vị hành chính. Các cấp hành chính gồm: Lộ, Phủ, Châu, Giáp và Xã có từ trước vẫn còn giữa nguyên. Đứng đầu hành chính địa phương đặt các chức An Phủ Sứ cai trị các lộ, Tri Phủ và Tri Châu cai trị các phủ, châu. LỘ(An Phủ Sứ)Phủ(Tri Phủ)Phủ(Tri Phủ)ChâuTri ChâuGiáp(Quản giáp và Phó tư giáp )ChâuTri ChâuChâuTri ChâuGiáp(Quản giáp và Phó tư giáp )Giáp(Quản giáp và Phó tư giáp )XãChánh lệnh trưởng và Tá lệnh trưởngXãChánh lệnh trưởng và Tá lệnh trưởngXãChánh lệnh trưởng và Tá lệnh trưởngAN NAMBộ máy hành chính ở Trung Ương cơ bản phỏng theo mô hình hành chính nhà Tống. ngoài chức Thái Sư còn đặt thêm tổng quản chức Thái Úy coi việc quân đội. nền hành pháp và tư pháp chưa phân biệt.Bộ máy hành chính ở Trung ƯơngTHÁI SƯTỔNG QUẢN(coi việc quân dân)THÁI ÚY(coi việc quân đội)Về giáo dục, đào tạo quan lại, chưa có tài liệu nào nói về việc học và khoa cử, tuy vậy sách sử ghi rõ Lê Đại Hành trọng đãi và sử dụng nhiều người có học hành giúp việc triều đình.Chế độ quan chức- Chế độ công vụ, công chức Năm ất-tị (1005) là năm Ứng-thiên thứ 12, vua Đại-hành mất, thọ 65 tuổi, làm vua được 24 năm. LÊ TRUNG TÔNG (1005) Vua Đại Hành đã định cho người con thứ ba là Long Việt làm thái tử, nhưng đến lúc vua Đại Hành mất, các hoàng-tử tranh ngôi đánh nhau trong bảy tháng. Đến khi Long Việt vừa mới lên ngôi được ba ngày thì bị em là Long Đĩnh sai người vào cung giết đi, thọ 23 tuổi. Sử gọi là Lê Trung-tông. Long Đĩnh làm vua được 2 năm đổi niên hiệu là Cảnh Thụy (1008-1009). Sang năm sau là năm Kỹ Dậu (1009) thì mất, làm vua được 4 năm, thọ 24 tuổi. LÊ LONG ĐĨNH (1005-1009)Hoàng tử Sạ con vua Long Đỉnh còn bé, triều đình tôn Lý Công Uẩn lên ngôi lập nên nhà Lý.Long Đĩnh mất rồi, Hoàng tử Sạ con vua Long Đỉnh còn bé, đình thần tôn Lý Công Uẩn lên làm vua, khai sáng nên cơ nghiệp nhà Lý. Như vậy: Nhà Tiền Lê làm vua được 3 đời, cả thảy được 29 năm. HÀNH CHÍNH NƯỚC TA TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THẾ KỶ XVHành chính nhà nước thời LýNHÀ LÝ (1010-1225)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pptchuong_3_dinh_p2_6561.ppt