Hiện trạng, xu thế và khả năng phục hồi đa dạng sinh học rạn san hô ở vịnh Nha Trang

Bài báo trình bày kết quả về hiện trạng rạn san hô tại 13 điểm khảo sát trong

vịnh Nha Trang. Nhằm đánh giá xu thế biến động của các rạn san hô, 8 điểm

giám sát cố định giai đoạn từ năm 2002 – 2007 và kết quả khảo sát năm 2015

được sử dụng để phân tích xu thế biến động và khả năng phục hồi đa dạng

sinh học có thể có của các rạn san hô vịnh Nha Trang. Kết quả cho thấy, hiện

trạng độ phủ trung bình của san hô sống ở vịnh Nha Trang đạt giá trị bậc 2,

mật độ cá rạn trung bình đạt 122 ± 23SE con/100m2, động vật không xương

sống kích thước lớn có mật độ trung bình 14 ± 4,3SE con/100m2. Độ phủ của

san hô sống và cá rạn san hô có dấu hiệu tăng tại khu vực bảo vệ nghiêm

ngặt. Một số vùng rạn ngoài khu vực bảo vệ nghiêm ngặt có xu thế giảm về

độ phủ, một số rạn đã suy thoái hoặc có thể suy thoái trong thời gian tới và

không còn khả năng phục hồi tự nhiên. Mật độ động vật không xương sống

kích thước lớn thay đổi không theo qui luật tại các điểm giám sát theo thời

gian và cầu gai đen (Diadema spp) là loài chiếm ưu thế trong nhóm động vật

không xương sống. Hơn nữa không có dấu hiệu phục hồi của các nhóm sinh

vật có giá trị kinh tế. Tính đa dạng sinh học tại một số điểm giám sát có dấu

hiệu suy giảm do sự thay đổi của cấu trúc quần xã sinh vật rạn và sự biến

mất một số loài sinh vật.

pdf12 trang | Chia sẻ: tieuaka001 | Ngày: 19/09/2020 | Lượt xem: 130 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Hiện trạng, xu thế và khả năng phục hồi đa dạng sinh học rạn san hô ở vịnh Nha Trang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ơn nữa, các dẫn liệu của nghiên cứu đa dạng loài trên rạn san hô vịnh Nha Trang cho thấy sự kém đa dạng của cá rạn san hô (Vo Si Tuan và cs., 2002). Kết quả khảo sát năm 2015 cũng chỉ ghi nhận sự gia tăng mật độ trung bình của cá rạn ở nhóm kích thước 11 - 20 cm. Như vậy, nếu giả thuyết trên là đúng thì trong tương lai sự nhiễm bệnh của san hô ở vịnh Nha Trang có thể sẽ theo chiều hướng gia tăng. Sự nghèo nàn sinh vật nguồn lợi trong rạn san hô ở vùng biển ven bờ Việt Nam nói chung và vịnh Nha Trang nói riêng là nguyên nhân của sự khai thác quá mức (Võ Sĩ Tuấn, 2011). Kết quả giám sát năm 2015 trong nghiên cứu này một lần nữa tiếp tục khẳng định tình trạng khai thác quá mức vẫn để lại hậu quả dai dẳng tại các rạn san hô ở vịnh Nha Trang, khi mà sinh vật có giá trị nguồn lợi cao còn lại quá ít không còn khả năng tái tạo phục hồi tự nhiên và lại tiếp tục bị khai thác như ở những khu vực phía bắc vịnh, nơi mà sự quản lý hầu như còn buông lỏng. Một số khu vực khác như Hòn Miếu, Hòn Tằm, Bãi Lận, mật độ sinh vật đáy chủ yếu vẫn chỉ là cầu gai đen (Diadema spp) và thắt lưng (Synapta spp), những loài được cho là ít có giá trị kinh tế, ngoại trừ vai trò sinh thái của chúng trên rạn. Rạn san hô có dấu hiệu phục hồi tại vùng bảo vệ nghiêm ngặt (Hòn Mun) của khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang thể hiện ở việc gia tăng độ phủ san hô sống, mật độ cá rạn và động vật không xương sống kích thước lớn trên rạn theo thời gian (Võ Sĩ Tuấn và cs., 2008; Võ Sĩ Tuấn, 2011; trong nghiên cứu này). Trong khi đó, một số điểm ngoài khu vực bảo vệ nghiêm ngặt như Hòn Miếu, Bãi Nghéo không có dấu hiệu của việc phục hồi. Có thể nhận thấy rằng, tác dụng ‘hiệu ứng tràn’ của nguồn lợi sinh vật cũng như tính đa dạng sinh học từ vùng bảo vệ nghiêm ngặt ra bên ngoài chưa thực sự có hiệu quả. Điều này được giải thích do phạm vi vùng bảo vệ nghiêm ngặt là quá nhỏ và chỉ tập trung tại Hòn Mun nên có khả năng chưa đảm bảo được khả năng bổ sung bầy đàn cho các khu vực lân cận trong một thời gian ngắn (Võ Sĩ Tuấn, 2011). Dù bài báo này không trình bày kết quả nghiên cứu về sự thay đổi đặc điểm cấu trúc quần xã sinh vật rạn san hô và tính đa dạng sinh học của chúng. Nhưng kết quả cho thấy một số loài như ốc tù và (Charonia tritonis), trai tai tượng (Tridacna 186 squamosa), cầu gai bút chì (Hetero- centrotus mammilatus) đã biến mất hoàn toàn tại các điểm nghiên cứu. Đối với san hô cứng, sự đa dạng của giống san hô cành Acropora spp đã suy giảm, thậm chí biến mất hoàn toàn ở một vài điểm giám sát (Võ Sĩ Tuấn, 2011). Nguyên nhân của sự thay đổi về tính đa dạng có thể là do sự thay đổi về cấu trúc quần xã dưới các tác động khác nhau của yếu tố môi trường làm gia tăng các loài ưu thế có khả năng thích nghi với điều kiện mới và sự khai thác quá mức các loài sinh vật có giá trị. V. KẾT LUẬN Hiện trạng độ phủ trung bình san hô cứng tại các điểm khảo sát đạt giá trị bậc 2 (>10%). Có 2 điểm khảo sát tại Hòn Mun đạt bậc 4 (>50%), nhiều điểm khảo sát chỉ đạt giá trị bậc 1 (<10%). Mật độ cá rạn trung bình đạt 122 ± 23SE con/100m2, tuy nhiên mật độ chỉ tập trung vào nhóm cá có kích thước nhỏ, chiếm 83% tổng số. Động vật không xương sống kích thước lớn đạt mật độ trung bình 14 ± 4,3SE con/100m2, trong đó nhóm cầu gai đen Diadema spp chiếm ưu thế. Độ phủ san hô sống trung bình của 8 điểm giám sát cố định không có sự thay đổi nhiều trong vòng hơn một thập kỷ qua. Sự biến động về mật độ các rạn và động vật không xương sống tại các điểm giám sát cố định chỉ mang tính ngẫu nhiên giữa các năm. Mật độ của nhóm cá rạn có kích thước lớn (>10cm) và các nhóm động vật không xương sống có giá trị kinh tế vẫn không có dấu hiệu phục hồi, nhiều loài không còn được bắt gặp trong thời gian giám sát. Mặc dù rạn san hô có dấu hiệu phục hồi ở khu vực bảo vệ nghiêm ngặt nhưng một số vùng rạn ngoài khu vực bảo vệ nghiêm ngặt được cho là suy thoái hoàn toàn và khó có khả năng phục hồi tự nhiên, một số vùng khác có khả năng sẽ suy thoái trong thời gian tới. Lời cảm ơn. Nguồn tư liệu sử dụng cho bài báo này là kết quả của nhiệm vụ môi trường về "Khảo sát đa dạng sinh học trong khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang năm 2015", và sử dụng các kết quả khảo sát đa dạng sinh học và giám sát rạn san hô do các dự án của DANIDA, IUCN, dự án VAST. HTQT.NGA.01/14-15 và BQL vịnh Nha Trang tài trợ. Xin cảm ơn các tổ chức đã hỗ trợ kinh phí để thực hiện việc khảo sát đa dạng sinh học và giám sát rạn san hô vịnh Nha Trang trong thời gian qua. TÀI LIỆU THAM KHẢO Bruno J. F., E. R. Selig, K. S.Casey, C. A. Page, B. L. Willis, C. D. Harvell, H. Sweatman, A. M. Melendy, 2007. Thermal stress and coral cover as drivers of coral disease outbreaks. PloS Biology, 5 (6): 1220-1227. Bythell J., C. Sheppard, 1993. Mass mortality of Caribbean shallow corals. Marine Pollution Bulletin, 26: 296-297. Bythell J. C., E. H. Gladfelter, M. Bythell, 1993. Chronic and catastrophic natural mortality of three common Caribbean reef corals. Coral Reefs, 12: 143 - 152. Cathie A. P., M. B. David, C. D. Harvell, G. Yimnang, R. Laurie, J. N. Stephen, B. R. Kathryn, L. R. Krystal, P. A. Jason, B. L. Willism, 2009. Influence of marine reserves on coral disease prevalence. Diseases of Aquatic Organisms, 87: 135- 150. Cesar H., L. Burke, L. Pet-Soede, 2003. The economics of worldwide coral reef degradation. Zeist, Netherlands: Cesar Environmental Economics Consulting, 23 pp. Connell J. H., 1978. Diversity in tropical rain forests and coral reefs. Science, 199: 1302-1310. English S., C. Wilkinson, V. Baker, 1997. Survey manual for tropical marine resource. Australia Institute of Marine Science. Townsville, 390pp. Hodgson G., S. Waddell, 1997. International reef check core method. 76p. 187 Jennings S., N. V. C. Polunin, 1996. Impacts of fishing on tropical reef ecosystems. Ambio, 25 (1): 44-49. Karnit B., Z. Mohammad, A. Yousef, I. Alvaro, B. Itzchak, A. Avigdor, 2010. Macroalgae in the coral reefs of Eilat (Gulf of Aqaba, Red Sea) as a possible indicator of reef degradation. Marine Pollution Bulletin, 60: 759-764. Kramer P.A., 2003. Synthesis of coral reef health indicators for the western Atlantic: results of the AGRRA program (1997–2000). Atoll Research Bulletin, 496: 1-58. Littler M. M., D. S. Littler, B. E. Lapointe, 1993. Modification of tropical reef community structure due to cultural eutrophication: the southwest coast of Martinique. Proc. 7th Int. Coral Reef Symp. 1: 335 - 343. Moberg F., C. Folke, 1999. Ecological goods and service of coral reef ecosystems. Ecological Economics, 29: 215-233. Phạm Văn Thơm, Võ Sĩ Tuấn, 1997. Các đặc trưng hóa môi trường và mối liên quan khả năng giữa chúng với sự suy thoái của các rạn san hô trong vịnh Nha Trang. Tuyển tập Hội nghị Sinh học Biển Toàn quốc lần thứ nhất. NXB Khoa học Kĩ thuật, Hà Nội, 54-61. Richardson L. L., R. R. Aronson, 2002. Infectious diseases of reef corals. Proceedings of the Ninth International Coral Reef Symposium, Bali, 2: 1225- 1230. Spalding M. D., C. Ravilious, E. P. Green, 2001. World atlas of coral reefs. Prepared at the UNEP World Conservation Monitoring Centre. University of California Press, Berkeley USA, 424p. Võ Sĩ Tuấn (chủ biên), Nguyễn Huy Yết và Nguyễn Văn Long, 2005. Hệ sinh thái rạn san hô biển Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ thuật, chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, 212 trang. Võ Sĩ Tuấn, 2011. Biến động đa dạng sinh học rạn san hô vịnh Nha Trang và các giải pháp quản lý. Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Khoa học và Công nghệ Biển Toàn quốc lần V – Tiểu ban Sinh học và nguồn lợi sinh vật biển. Hà Nội, 29-39. Vo Si Tuan, Hua Thai Tuyen, Nguyen Xuan Hoa, Lindon DeVantier, 2002. Shallow water habitats of Hon Mun Marine Protected Area, Nha Trang Bay, Vietnam: Distribution, Extent and Status 2002. Collection of Marine Research Works, Special Issue on the Occasion of the 80th Anniversary of the Institute of Oceanography (1922-2002), Science and Technique Publishing House, vol. 12: 179-204. Võ Sĩ Tuấn, Nguyễn Văn Long, Hoàng Xuân Bền, Phan Kim Hoàng, Hứa Thái Tuyến, 2008. Giám sát rạn san hô vùng biển ven bờ Việt Nam: 1994-2007. NXB Nông nghiệp, 108 trang. Wilkinson C., 2008. Status of coral reefs of the world: 2008. Global Coral Reef Monitoring Network and Reef and Rainforest Research Centre, Townsville, Australia, 298 pp. WWF, 1994. Vietnam Marine Conservation Southern Survey Team. Survey Report on the Biodiversity, Resource Utilization and Conservation Potential of Cat Ba, Hon Mun, Cu Lao Cau, An Thoi, Co To, Con Dao. Institute of Oceanography (Nha Trang, Hai Phong, Vietnam) and WWF, 95p.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf19_hoangxuanben_176_187_7123.pdf