Lý luận về nhà nước pháp quyền - Chương 2: Thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

Trong Hiến pháp 1992, quyền lập pháp được nhắc đến 2 lần ở Điều 2 và

Điều 83. Tuy nhiên, quyền lập pháp là gì và bao gồm những nội dung gì thì không

được quy định rõ. Hiến pháp 1992 chỉ tuyên bố Quốc hội là cơ quan duy nhất có

quyền lập hiến, lập pháp và quy định các quyền, nghĩa vụ cụ thể của Quốc hội tại

Điều 84. Vấn đề đặt ra là, nội hàm của quyền lập pháp với cách quy định như vậy

quyền lập pháp có phải là bao gồm các quyền của Quốc hội quy định tại Điều 84

hay không? Để có quan điểm chính xác về quyền lập pháp cần phải xuất phát từ

quan điểm về quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước không phải là một đại

lượng được xác định một cách rạch ròi. Quyền lực nhà nước về bản chất là thống

nhất, không thể phân chia. Việc phân định ra các quyền lập pháp, hành pháp và tư

pháp là phương thức để tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước chứ không mang ý

nghĩa quyền lực nhà nước là phép cộng của các quyền lập pháp, hành pháp, tư

pháp. Trong chế độ dân chủ và pháp quyền, quyền lực nhà nước không được coi là

tự có, không xuất phát từ lực lượng siêu nhiên hay từ một cá nhân nào đó mà là

quyền lực thuộc về nhân dân, được nhân dân ủy quyền cho nhà nước thực hiện. Để

tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, thông qua văn bản Hiến pháp, nhân dân ủy

quyền cho các cơ quan khác nhau thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư

pháp. Ở hầu hết các nước trên thế giới, quyền lập pháp được trao cho Nghị viện

(hoặc Quốc hội), quyền hành pháp được trao cho Chính phủ và quyền tư pháp

được trao cho Tòa án.

pdf93 trang | Chia sẻ: Mr Hưng | Ngày: 17/08/2016 | Lượt xem: 441 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang nội dung tài liệu Lý luận về nhà nước pháp quyền - Chương 2: Thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ức, viên chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật quy định; công dân được làm những gì pháp luật không cấm” cần phải được hiện thực hóa trong đời sống xã hội Ba là, xác định rõ những định hướng nội dung lớn về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay bao gồm: xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. 42 Võ Khánh Vinh, Một số ý kiến về sự thể hiện quan điểm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam khi bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3, năm 2009, T. 1-5. 111 Theo đó, cần xác định rõ những định hướng xây dựng và hoàn thiện các cơ quan lập pháp, các cơ quan hành pháp, các cơ quan tư pháp, các cơ quan kiểm soát và giám sát quyền lực, các tổ chức tự quản xã hội theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có chất lượng trên các phương diện: hệ thống văn bản luật, hệ thống các tổ chức, thiết chế xây dựng và thực thi pháp luật, hệ thống đào tạo luật, nâng cao ý thức và văn hoá pháp luật cho cán bộ và nhân dân43. 2. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM XHCN . 2.1. Nhóm các giải pháp hoàn thiện hoạt động lập pháp 2.1.1 Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng cũng phải đặt mình trong khuôn khổ pháp luật và dưới pháp luật. Đảng lãnh đạo xã hội thông qua việc chuyển tải các chủ trương, chính sách của mình thành pháp luật. Muốn vậy, các chủ trương đó phải được luật hóa thông qua con đường của cơ quan lập pháp. Tuy nhiên, để có các chủ trương, chính sách tốt thì trước khi quyết định cần có cơ chế lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự tác động trực tiếp chứ không nên quyết và đặt các cơ quan này vào tình thế phải thực hiện vô điều kiện việc luật hóa các chủ trương, chính sách đó. Cần có cơ chế thông tin đầy đủ đến những Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp có thẩm quyền trong Đảng và bảo đảm tính khoa học, chính xác, khách quan và đầy đủ của các thông tin. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội nên đặt ở tầm vĩ mô, tránh đi vào việc cho ý kiến những nội dung quá chi tiết, cụ thể trong từng đạo luật mà cần phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cơ quan, nâng năng lự c và trách nhiệm của các cơ quan này. 2.1.2 Làm rõ nguyên tắc phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp 43 Võ Khánh Vinh, Một số ý kiến về sự thể hiện quan điểm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam khi bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3, năm 2009, T. 1-5. 112 Nguyên tắc phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, tư pháp, hành pháp cần được thể hiện rõ hơn nữa trong Hiến pháp bằng cách xác định phạm vi của từng quyền lực, nguyên tắc của việc phối hợp. Trong mối quan hệ với các cơ quan quyền lực nhà nước khác, cần khẳng định tính trội của Quốc hội, cơ quan lập pháp với các cơ quan Chính phủ (hành pháp) và tòa án (tư pháp). Cần xem xét lại quy định Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp. Bởi vì, trên thực tế hiện nay cũng có sự ủy quyền lập pháp. Và quan trọng hơn nữa, với tư cách là cơ quan đại diện của nhân dân thì Quốc hội cũng chỉ là thiết chế đại diện thực hiện những quyền được nhân dân giao phó trong Hiến pháp chứ không phải là một thiết chế với quyền lực vô hạn. Quyền lập pháp vẫn được nhân dân giữ lại thực hiện trực tiếp với cơ chế trưng cầu dân ý. Đối với quyền hành pháp, cần xem xét làm rõ khái niệm hành pháp và hành chính, khi nào Chính phủ thực hiện quyền của mình với tư cách cơ quan chấp hành của Quốc hội, khi nào với tư cách cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Ranh giới của hoạt động lập quy của Chính phủ cũng cần phải được thiết lập trong một khuôn khổ và phạm vi nhất định, nên chăng hạn chế trong lĩnh vực kinh tế. Đối với quyền tư pháp, cần bảo đảm nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Thẩm quyền ban hành nghị quyết hướng dẫn các tòa án áp dụng pháp luật cần được xem xét lại. 2.1.3 Xây dựng cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền lập pháp Quyền lập pháp là quyền lực có tính trội nhưng không phải không có giới hạn. Quyền lập pháp chỉ được đặt trong khuôn khổ của Hiến pháp, do nhân dân giao phó mà thôi. Có thể nhận thấy hiện nay, ở nước ta chưa có thiết chế/phương thức hữu hiệu để giám sát hoạt động lập pháp của Quốc hội nhằm bảo đảm hoạt động này luôn phù hợp Hiến pháp. Bởi lẽ, Quốc hội cũng như các thiết chế khác của bộ máy nhà nước, trong hoạt động của mình khó tránh khỏi những sai sót có thể xảy. Việc quy định cơ quan kiểm toán trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI là một ví dụ minh chứng cho việc vi phạm hiến pháp khi Quốc hội với tư cách là cơ quan đại diện đã đặt ra một thiết chế nhà nước mới so với Hiến pháp. Do đó, việc nghiên cứu cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền lực nói chung và quyền lập pháp nói riêng là cần thiết. 2.1.4. Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan của Quốc hội 113 Trước hết, cần đổi mới cách tư duy về vị trí, vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Có thể nói trong điều kiện Quốc hội hoạt động không thường xuyên thì sự xuất hiện của Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng là tất yếu. Tuy nhiên, Ủy ban thường vụ Quốc hội cần được xác định rõ không phải là cơ quan quyền lực và không có chức năng đại diện. Tính chất của Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ là cơ quan thường trực. Xuất phát từ quan niệm như vậy sẽ quy định các thẩm quyền tương ứng để không biến Ủy ban thường vụ Quốc hội thành một cấp trung gian trong việc tổ chức thực hiện quyền lập pháp, cũng không là một cấp hành chính trong hoạt động lập pháp. Quốc hội thực hiện quyền lập pháp của mình thông qua việc đẩy mạnh hoạt động của các ủy ban. Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội cần được tổ chức chuyên nghiệp, hoạt động thường xuyên hơn, đi sâu vào các vấn đề phân tích, tham mưu cho Quốc hội về chính sách chứ không hành chính hóa các công việc của mình, cũng như không biến mình trở thành cơ quan dịch chính sách, soạn thảo luật như hiện nay. 2.1.5 Đổi mới quy trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết bảo đảm các yêu cầu trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Một trong các yêu cầu của nhà nước pháp quyền là phải bảo đảm tính tối thượng của pháp luật, trong đó Hiến pháp giữ vị trí vai trò quan trọng nhất. Quy trình xây dựng luật, pháp lệnh với việc lấy Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh làm “trung tâm” cho mọi hoạt động liên quan đến việc xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội như hiện nay cần phải xem xét lại. Bởi vì, quy trình này không bảo đảm quyền trình sáng kiến lập pháp của các chủ thể ra trước Quốc hội. Bên cạnh đó, quy trình thông qua luật hai bước như hiện nay với vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội và những “quyền” của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong quá trình xây dựng chương trình, tiếp thu, chỉnh lý, thông qua không bảo đảm được tính đại diện trong hoạt động của Quốc hội. 2.2. Nhóm các giải pháp xây dựng và hoàn thiện một nền hành pháp vững mạnh, trong sạch, có trách nhiệm 2.2.1. Quyết tâm chính trị của người lãnh đạo trung ương và địa phương Trong công tác chỉ đạo cải cách hành chính nhà nước tại các nước Pháp, Đức, kinh nghiệm đã chỉ ra một trong bốn yếu tố cần thiết là phải chủ động và có 114 tầm nhìn chiến lược, có quyết tâm chính trị cao44. Hiện nay, vấn đề lớn trong cải cách hành chính ở ta là ý chí quyết tâm cải cách. Một trong những yếu tố có tính chất quyết định thành công hay thất bại của cải cách hành chính đã được khẳng định là sự hiện diện hay không quyết tâm chính trị của các nhà lãnh đạo mỗi quốc gia và những người đứng đầu các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước (đối với nước ta phải kể cả các nhà lãnh đạo đảng). Ở nước ta, qua mấy chục năm cải cách, điều vừa nêu được thể hiện rất rõ. Thực tiễn cải cách đã đưa đến nhận định rằng có hai điều khiến cải cách hành chính chưa đạt được điều mong muốn: 1/ Do nhận thức và tư tưởng của những người lãnh đạo các cấp chưa đủ với sự cần thiết của một cuộc cải cách; 2/ Cải cách hành chính là sự thay đổi mà không phải sự thay đổi lớn về chức năng tổ chức bộ máy, về con người trong bộ máy hành chính nhà nước nào cũng thuận với tất cả mọi người...chúng ta chưa chuẩn bị tốt về tư tưởng khi tiến hành cuộc cải cách này nên có chỗ thông suốt, có chỗ không tích cực45. Một số nhà nghiên cứu cũng chung nhận xét rằng cuộc cải cách hành chính ở nước ta chưa được chuẩn bị tốt về mặt tư tưởng46. Có thể nói đây là nhận định đã phản ánh thực chất khâu yếu nhất trong nhận thức cải cách hành chính làm hạn chế các kết quả đạt được. Thực tiễn cải cách hành chính ở các nước đã chứng tỏ rằng cần ở người lãnh đạo một sự nhận thức và quyết tâm cải cách có tính chất bứt phá, quyết liệt mới mong thu được kết quả tốt. Chẳng hạn, ở Mêxicô, sau hàng loạt các nỗ lực cải cách không thành công và thiếu kiên quyết, được tiến hành trong giai đoạn trước và sau những năm 70 của thế kỷ trước. Cuộc khủng hoảng "Tequila" năm 1994- 1995 với chỉ số lạm phát 300%, sự phá sản của hàng loạt doanh nghiệp nhà nước, tình trạng nợ ngoại tệ của Chính phủ gia tăng, quá trình cải tổ doanh nghiệp nhà nước, những bất cập về năng lực quản lý nhà nước và tình trạng tham nhũng trong 44 Ban Điều hành đề án 169, Báo cáo số 02/BC-BĐH Kết quả nghiên cứu về cải cách hành chính tại Pháp và Đức của Đoàn cán bộ văn phòng Chính phủ ngày 17 tháng 4 năm 2006, tr. 17. 45 Nguyễn Khánh (trả lời phỏng vấn) Báo tuổi trẻ.com.vn, ngày 11 tháng 6 năm 2007 46 Đào Trí Úc, “Mối liên hệ giữa nhà nước với xã hội dân sự và vấn đề cải cách hành chính”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 200, số, Tr, 10, 115 bộ máy... là những yếu tố buộc Tổng thống phải quyết định cải cách hệ thống thể chế để vực dậy nền kinh tế Mêxicô. Còn ở Hàn Quốc, qua hai cuộc cải cách thể chế mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính (1987-1992 và 1992-1997), do tiến hành không kiên quyết và triệt để nên kết quả đạt được hạn chế. Tổng thống (đồng thời là người đứng đầu hành pháp) đã phải phát động cuộc cải cách kiên quyết vào năm 1998 để khôi phục nền kinh tế, bảo đảm tăng trưởng và phát triển xã hội sau khủng hoảng tài chính trầm trọng của các nước châu Á năm 1997. Nhờ đó kết quả thu được rất khả quan. Ở nước ta, để phát triển nhanh và bền vững các mặt của đời sống xã hội, với phương châm hành động “đi tắt đón đầu” thì trong bối cảnh hội nhập hiện nay, cần phải nói rằng: “Triển vọng mới mở ra cho chúng ta một cơ hội lớn để có những bước đi mạnh mẽ hơn. Người dân đòi hỏi Đảng, Nhà nước, trong đó có Chính phủ là người điều hành cần có một cuộc bứt phá, không phải ở mức như những năm trước đây. Đó là một tình thế không còn có sự đảo ngược và không thể chậm trễ trong lúc này, song cần phải thấy rằng tăng tốc trong một nhịp độ đủ chắc, không duy ý chí nhưng phải có những quyết định táo bạo. Phải xem quá trình hội nhập thế giới là một cuộc đua, không thể cứ chạy đều đều”47. Bởi vậy, kết quả cải cách tiếp theo ở nước ta vẫn sẽ phụ thuộc vào việc các nhà lãnh đạo cải cách có quyết tâm chính trị như thế nào. Quyết tâm chính trị về cải cách hành chính phải có không chỉ từ phía người lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nói riêng là những người đứng đầu Chính phủ, bộ máy hành chính mà còn phải từ các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và quyết tâm này trực tiếp hay gián tiếp, qua các kênh khác nhau phải được truyền tải tới từng cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính. Cần ý thức rõ và có biện pháp nâng tầm nhận thức và quyết tâm cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay và có cơ chế lựa chọn người thực tâm và có ý chí vào bộ máy lãnh đạo. Bên cạnh đó, nhận thức, quyết tâm chính trị về cải cách còn cần phải dành được sự ủng hộ của các tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là việc lôi cuốn sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp. Sự tham gia của các doanh nghiệp, 47 Võ Văn Kiệt (trả lời phỏng vấn), Thời kỳ mới đang cần một Chính phủ biết bứt phá, VietNamNet, ngày 19 tháng 7 năm 2007. 116 các tổ chức phi nhà nước vào các hoạt động cải cách mang đến khả năng huy động trí tuệ của các nhà kinh doanh, đại diện các tổ chức phi Chính phủ; sự thúc đẩy cải cách do tích cực tự giác và có động lực từ các doanh nghiệp; bảo đảm tính khách quan với phạm vi kiến nghị rộng và đa dạng. Có thể nêu một ví dụ. Thời gian qua, cải cách thủ tục hành chính chủ yếu do các bộ, ngành tiến hành, chưa thực sự thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp, các hiệp hội, hội, các tổ chức xã hội khác. Vì vậy, kết quả cải cách thủ tục này mang nặng tính chủ quan của nhà quản lý. Trong khi đó, cải cách thủ tục hành chính tại một trong những quốc gia có mô hình tương đối thành công là Hàn Quốc sở dĩ thu được kết quả vì đã theo phương châm Chính phủ và doanh nghiệp cùng thực hiện rà soát thủ tục hành chính. Tháng 3 năm 2010 mới đây, Chính phủ Việt Nam đã hoàn thành Đề án 30 về cắt thủ tục hành chính đã thể hiện quyết tâm của cải cách hành chính. Ông Michael W.Michalak, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam đã trả lời phóng viên báo chí rằng: “Bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính ở Việt Nam là bước nhảy vọt về cải cách hành chính, tạo cơ hội cho tất cả cá nhân, tổ chức hiểu rõ hơn quyền và nghĩa vụ liên quan đến thủ tục hành chính của mình. Điều này khẳng định cam kết mạnh mẽ trong việc xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiệu quả tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy đầu tư, tăng trưởng kinh tế”48. Chúng tôi cho rằng quyết tâm chính trị trong cải cách hành chính, trong đó có vấn đề xây dựng và hoàn thiện nền hành pháp vững mạnh, trong sạch và trách nhiệm là yếu tố có tính chất quyết định nhất. 2.2.2. Xác định rõ ràng mô hình nền hành chính Hiện nay, có các mô hình hành chính khác nhau. Đảng và Nhà nước cần đầu tư vào việc xây dựng nền hành chính một cách có ý thức, hợp lý, phù hợp với các điều kiện thực tế ở nước ta. Đây sẽ là yếu tố cơ bản về nền hành chính, từ đó tạo cơ sở cho việc thực hiện việc cải cách, hoàn thiện nền hành chính nhà nước về thể chế, tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy hành pháp, công vụ và công chức, tài chính công với các tiêu chí về tính vững mạnh, trong sạch, có trách nhiệm. 48 Chí Tùng, Lần đầu tiên ra mắt bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Báo Lao động, ngày 27/10/2009. 117 2.2.3. Dân chủ hoá nền hành pháp Dân chủ có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Thực tiễn hàng chục năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta cho tới trước thời kỳ đổi mới cho thấy, không thể chỉ bằng việc xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột; xác lập Nhà nước xã hội chủ nghĩa, quy định trong Hiến pháp, pháp luật về dân chủ và thực hiện việc tuyên truyền dân chủ là có ngay được nền dân chủ tốt đẹp, gấp “triệu lần nền dân chủ tư sản”. Để xây dựng được một nền dân chủ thực sự thì phải có các điều kiện thực tế cho việc xây dựng nền dân chủ với tư cách là nhân tố nội tại quy định dân chủ. Nói cách khác, xây dựng và phát triển nền dân chủ không thể chỉ bằng mong muốn, bằng ý tưởng mà phải có các tiền đề, điều kiện về kinh tế, chính trị cần thiết. Đây là các nhân tố tác động có tính quy luật quy định sự hiện diện và phát triển của dân chủ. Trước hết chúng ta cùng xem xét mối quan hệ giữa dân chủ và kinh tế thị trường. Tự do, bình đẳng, dân chủ - những thuộc tính căn bản của kinh tế thị trường lại không tương thích với nền chính trị có tính chất tập quyền. Đó là mối quan hệ có tính quy luật; trong đó kinh tế quyết định chính trị. Chính điều vừa nêu đã là nhân tố thúc đẩy quá trình dân chủ hoá nền chính trị trong tư cách là bảo đảm về chính trị cho tự do, bình đẳng, dân chủ về kinh tế. Thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta những năm qua cho thấy tác động của kinh tế thị trường vào nền chính trị ngày càng rõ nét. Vào đầu những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đổi mới kinh tế trước, từng bước đổi mới chính trị, nhờ đó giữ được sự ổn định, không gây xáo trộn xã hội. Nhưng công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu thì đòi hỏi về cải cách chính trị ngày càng thể hiện rõ nét. Những bất cập về chính trị cản trở sự vận hành của kinh tế thị trường dần được tháo gỡ. Đây chính là sự thể hiện của sự chi phối của kinh tế thị trường đối với nền chính trị, mà dân chủ là vấn đề cơ bản của của đổi mới chính trị. Nó chứng tỏ rằng chính trị, dân chủ chịu sự chế ước của kinh tế. Điều kiện chính trị cần thiết của dân chủ là sự hiện diện nhà nước pháp quyền. Kinh tế thị trường dù có chứa đựng trong nó các tố chất thúc đẩy dân chủ thì tự nó cũng không thể trực tiếp chuyển một xã hội thành dân chủ, nếu chính trị chưa có động thái chuyển biến tương ứng. Nhà nước pháp quyền là nhà nước bảo đảm quyền của con người, quyền công dân, đồng thời đòi hỏi sự tuân thủ, thi hành 118 pháp luật không có ngoại lệ, trước hết là từ phía những người được giao giữ công quyền. Hay nói cách khác, trong nhà nước pháp quyền thì người dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, đó là dân chủ. Dân chủ hoá nền hành pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong mục tiêu xây dựng nền hành pháp vững mạnh, trong sạch, trách nhiệm là cần thiết để: - Bảo đảm để luật phản ánh đúng mục tiêu xây dựng nền hành pháp với các tính chất kể trên. - Dân chủ hoá quyền lập pháp còn là cách thức làm cho pháp luật và việc thực hiện pháp luật phù hợp với yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nền hành pháp vững mạnh, trong sạch, trách nhiệm. - Thông thường người ta nhận thức rằng dân chủ hoá là hoạt động lôi cuốn nhân dân vào việc quản lý nhà nớc đợc hiểu như là một sự tận dụng trí tuệ của người dân. Nhưng trong một cách nhìn đầy đủ hơn, thì cần bổ sung một cách nghiêm túc và nhận thức rõ rệt rằng dân chủ hoá còn là phương tiện để tránh những sai lầm có thể xảy ra trong mục tiêu xây dựng nền hành chính với các tính chất đang nói. 2.2.4. Điều chỉnh pháp luật chặt chẽ, hợp lý bảo đảm cho việc xây dựng nền hành pháp vững mạnh, trong sạch, có trách nhiệm và phòng, chống vi phạm pháp luật Có thể nói, điều chỉnh pháp luật tính việc bảo đảm tính vững mạnh, trong sạch, có trách nhiệm trong pháp luật nước ta là có tính đến ít nhiều các yếu tố vững mạnh, trong sạch, có trách nhiệm. Tuy vậy, nó không rõ rệt, hiển hiện một cách có ý thức. Điều đó đòi hỏi cần có các quy định pháp luật chi tiết, cụ thể và rõ ràng hơn về các yếu tố của nền hành chính hướng tới các mục tiêu kể trên thể hiện được các yếu tố của nền hành chính theo hướng vững mạnh, trong sạch, trách nhiệm như: quy định rõ ràng chức trách của cán bộ, công chức; dân chủ hoá nền hành chính nhà nước, quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan hành pháp; bít các lỗ hổng pháp luật gây tham nhũng, xác định trách nhiệm của cán bộ, công chức 2.2.5. Xây dựng và thực hiện chế độ cán bộ, công chức cho nền hành pháp vì nền hành pháp vững mạnh, trong sạch, có trách nhiệm 119 Có một thực tế mà bất cứ ai đều biết là tình trạng “nhất thân nhì quen” trong việc lựa chọn, bầu, tuyển dụng cán bộ, công chức vào nền hành pháp. Nếu như vững mạnh, trong sạch, có trách nhiệm là những tính chất cần thiết hàng đầu đối với bất cứ nền hành pháp nào thì để nền hành pháp có được tính chất đó cần phải có những con người tương ứng, vì con người là nhân tố “quyết định hết thảy”. Bởi vậy, việc lựa chọn nhân sự với tư cách “đầu vào” của nền hành chính là vấn đề có tính chất quyết định để có được đội ngũ cán bộ, công chức thích ứng. Quản lý chặt chẽ và khoa học đội ngũ viên chức nhà nước là khâu hiện nay cần được tăng cường. Nội dung chủ yếu của hoạt động quản lý này bao gồm các mặt như lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng và đào tạo bồi dưỡng viên chức; tổ chức thực hiện việc quản lý, sử dụng viên chức; đánh giá viên chức; kiểm tra hoạt động của viên chức...Công tác kiểm tra đối với hoạt động của viên chức có vai trò đặc biệt quan trọng. Hiện nay, công tác này chưa được quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó, cần quy định rõ ràng, cụ thể quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của cán bộ, công chức thực hiện các chế độ kiểm tra, thanh tra, giáo dục, bồi dưỡng nghiêm chỉnh, có hiệu lực, hiệu quả. Hiện nay, đây là các vấn đề còn rất lỏng lẻo, chưa được thực hiện nghiêm túc, thậm chí thiếu trách nhiệm. Trong pháp luật về cán bộ, công chức và trong thực tiễn cần sự hình thành thói quen mới là từ chức. Hiện nay, đang tồn tại trong chế độ cán bộ, công chức Việt Nam thói quen “ỳ ra đó” thậm chí có khi còn thách thức mỗi khi mắc sai lầm hay vi phạm pháp luật trong hoạt động nhà nước nói chung, hoạt động hành pháp nói riêng. Từ chức là thể hiện của trình độ văn hóa chính trị - pháp lý đáng trân trọng. Áp dụng nghiêm minh các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với các viên chức nhà nước có các biểu hiện sai phạm, tham nhũng, quấy nhiễu công dân, tổ chức. Ở đây có thể nói đến hai hình thức trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm hình sự. Đây chỉ là các biện pháp sau cùng được áp dụng khi các biện pháp khác được thực hiện mà không đưa lại kết quả. Tuy nhiên, nếu thiếu các biện pháp này thì không thể bảo đảm được, giữ được tính liêm khiết, trách nhiệm của người viên chức nhà nước. Xây dựng một chế độ phục vụ của viên chức nhà nước bảo đảm sự vững mạnh, trong sạch và minh bạch, trách nhiệm là yêu cầu 120 khách quan của việc hoàn thiện bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của cuộc cải cách nền hành chính nhà nước. Đó là các vấn đề đặt ra cho chế độ cán bộ, công chức. 2.2.6. Phát huy vai trò của xã hội dân sự trong quan hệ với nền hành pháp Để xây nền hành chính nước ta thì cần có sự lãnh đạo của Đảng, có sự cố gắng của bản thân bộ máy Nhà nước. Nhưng chỉ thế thôi thì chưa đủ. Cần đặc biệt chú ý đến vai trò của xã hội, của nhân dân hay là của xã hội công dân (xã hội dân sự). Đây là nhân tố xét cho cùng quyết định việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, trong đó có nền hành pháp. Thực ra, điều này không có gì mới mẻ, vì đó là sự thể hiện quan niệm duy vật lịch sử về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với lịch sử, là sự thể hiện quan niệm “dân là gốc” đã được đúc kết từ lâu trong lịch sử nước ta. Một vấn đề lớn được đặt ra hiện nay là cần xây dựng xã hội dân sự . Đó là nhân tố đặc biệt quan trọng trong xã hội hiện đại. Đối với việc xây dựng và hoàn thiện nền hành chính nước ta, nó là chủ thể hợp tác để cải cách, xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại dưới các góc nhìn khác nhau: phản biện, phối hợp, gây sức ép...Đây chính là sức mạnh cần thiết để tạo lập nền hành pháp vững mạnh, trong sạch, trách nhiệm. Vấn đề đặt ra là chúng ta đã có thái độ nghiêm túc và sự can đảm trong việc chấp nhận xã hội dân sự hay không, trước hết là trong việc nghiên cứu nghiêm túc về nó trước khi thể hiện được trong pháp luật và trong thực tiễn. 2.3. Nhóm các giải pháp hoàn thiện nền tư pháp ở nước ta hiện nay Ngày 2-6-2005 Bộ Chính trị ban hành tiếp Nghị quyết 49-NQ/TW về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Đây là nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị, đề cập toàn diện về cải cách tư pháp cho thời gian dài với mục tiêu: xây dựng được một nền tư pháp Việt Nam trong sạch, vững mạnh; tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp phải mang tính dân chủ sâu sắc; các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án phải bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, 121 phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng tội phạm, bảo vệ quyền tự do, dân chủ, quyền con người, duy trì công lý. * Để đạt được mục tiêu nêu trên, chúng tôi cho rằng phải tiến hành nhiều giải pháp và hoàn thành hàng loạt công việc cụ thể, với lộ trình và bước đi phù hợp, cụ thể là: 2.3.1. Nội dung trước hết của cải cách tư pháp là cần hoàn thiện chính sách hình sự và các thủ tục tố tụng tư pháp. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động tư pháp. Trong những năm tới, chính sách hình sự và tố tụng tư pháp phải được hoàn thiện theo hướng nâng cao tính dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người; đề cao trách nhiệm pháp lý của các cán bộ có chức danh tư pháp trong hoạt động tố tụng. Để thực hiện định hướng trên, Bộ luật Hình sự 1999 cần được sửa đổi theo hướng phi tội phạm hoá một số hành vi mà hiện nay Bộ luật coi là tội phạm như: tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác; tội kinh doanh trái phép; tội chiếm giữ trái phép tài sản; tội vô ý gây thiệt hại đến tài sản Những hành vi này

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfgtkl0014_p2_227.pdf
Tài liệu liên quan