Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre

Hiện nay, cuộc cạnh tranh giữa các nước có nền kinh tế phát triển đang diễn ra gay gắt. Trong cuộc cạnh tranh này, phần chiến thắng sẽ thuộc về quốc gia có nguồn lực con người chất lượng cao, có khả năng sáng tạo và chiếm lĩnh đỉnh cao của tri thức khoa học tiên tiến. Vì vậy, phát triển NLCN luôn được đặt ở vị trí trung tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia đang tiến hành công nghiệp hóa.

Quá trình phát triển kinh tế-xã hội nước ta diễn ra khi cuộc cách mạng khoa học-công nghệ trên thế giới đã đạt tới đỉnh cao. Điều kiện lịch sử này cho phép chúng ta có thể và cần phải vận dụng tiến bộ KH-CN để có cơ hội phát triển nhanh CNH, HĐH đất nước theo con đường rút ngắn. Từ thực tế đó, khi bước vào thời kỳ CNH, HĐH, Đảng ta xác định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [17, tr.85]. Sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta không đơn giản chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế, mà chính là quá trình biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm đưa xã hội phát triển lên một trạng thái mới về chất, do đó, đòi hỏi phải có NLCN mạnh về số lượng, phát triển cao về chất lượng, thật sự là động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững. Từ nhận thức đó, Đảng ta khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [17, tr.21]. Hiện nay, phát triển NLCN, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, đang là một trong những hướng ưu tiên và là khâu đột phá để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH và đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bến Tre là tỉnh đồng bằng cuối nguồn sông Cửu Long, được hợp thành bởi ba cù lao lớn. Trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, người Bến Tre đã “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ, diệt Ngụy”. Nhưng trong công cuộc xây dựng quê hương, mặc dù tiềm năng kinh tế, xã hội có thể nói không thua kém các tỉnh bạn bao nhiêu, nhưng nhiều mặt đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của Bến Tre vẫn chưa vươn lên ngang bằng với các tỉnh trong khu vực. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Đại hội đại biểu lần thứ VI Đảng bộ tỉnh Bến Tre chỉ rõ: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế đối với tỉnh ta so với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long là điều mà chúng ta quan tâm nhất” [22, tr.44].

 

doc122 trang | Chia sẻ: zimbreakhd07 | Ngày: 16/10/2013 | Lượt xem: 738 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, cuộc cạnh tranh giữa các nước có nền kinh tế phát triển đang diễn ra gay gắt. Trong cuộc cạnh tranh này, phần chiến thắng sẽ thuộc về quốc gia có nguồn lực con người chất lượng cao, có khả năng sáng tạo và chiếm lĩnh đỉnh cao của tri thức khoa học tiên tiến. Vì vậy, phát triển NLCN luôn được đặt ở vị trí trung tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia đang tiến hành công nghiệp hóa. Quá trình phát triển kinh tế-xã hội nước ta diễn ra khi cuộc cách mạng khoa học-công nghệ trên thế giới đã đạt tới đỉnh cao. Điều kiện lịch sử này cho phép chúng ta có thể và cần phải vận dụng tiến bộ KH-CN để có cơ hội phát triển nhanh CNH, HĐH đất nước theo con đường rút ngắn. Từ thực tế đó, khi bước vào thời kỳ CNH, HĐH, Đảng ta xác định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [17, tr.85]. Sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta không đơn giản chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế, mà chính là quá trình biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm đưa xã hội phát triển lên một trạng thái mới về chất, do đó, đòi hỏi phải có NLCN mạnh về số lượng, phát triển cao về chất lượng, thật sự là động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững. Từ nhận thức đó, Đảng ta khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [17, tr.21]. Hiện nay, phát triển NLCN, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, đang là một trong những hướng ưu tiên và là khâu đột phá để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH và đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bến Tre là tỉnh đồng bằng cuối nguồn sông Cửu Long, được hợp thành bởi ba cù lao lớn. Trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, người Bến Tre đã “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ, diệt Ngụy”. Nhưng trong công cuộc xây dựng quê hương, mặc dù tiềm năng kinh tế, xã hội có thể nói không thua kém các tỉnh bạn bao nhiêu, nhưng nhiều mặt đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của Bến Tre vẫn chưa vươn lên ngang bằng với các tỉnh trong khu vực. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Đại hội đại biểu lần thứ VI Đảng bộ tỉnh Bến Tre chỉ rõ: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế đối với tỉnh ta so với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long là điều mà chúng ta quan tâm nhất” [22, tr.44]. Trong những năm gần đây, nhờ biết khai thác thế mạnh kinh tế thuỷ sản và kinh tế vườn, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bến Tre đã đạt mức tăng trưởng khá (giai đoạn 2000-2004, bình quân tăng 8,7%/năm). Tuy nhiên, so với các tỉnh trong khu vực và cả nước, Bến Tre vẫn là tỉnh có tốc độ phát triển chậm, đặc biệt là quá trình CNH, HĐH diễn ra với quy mô nhỏ bé và chậm chạp. Để khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của mình, gần đây, Bến Tre đã bắt đầu quan tâm phát triển NLCN của tỉnh và đã đạt được những thành tựu quan trọng bước đầu. Nhưng đến nay, nhiều tiềm năng to lớn, nhất là tiềm năng con người của Bến Tre, vẫn chưa được khai thác có hiệu quả và chưa chuyển hóa thành nội lực cho sự phát triển nhanh và bền vững, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn của quá trình CNH, HĐH ở Bến Tre. Đây là một trong những nguyên nhân chính cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Do đó, việc nghiên cứu khoa học nhằm “Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre” là vấn đề đang đặt ra cấp thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với tiến trình phát triển của Bến Tre trong những năm tới. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong những năm gần đây, NLCN và phát triển NLCN là vấn đề đã được đề cập nghiên cứu ở nhiều mức độ và góc độ khác nhau. Nhiều công trình đã nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề về NLCN, về GD-ĐT, về nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả NLCN, đáng chú ý là những công trình sau: - “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PTS. Mai Quốc Chánh chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước. - “Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” của PGS. Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (Viện Kinh tế thế giới), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996. Quyển sách đã giới thiệu khái quát về vai trò của nguồn nhân lực ở một số nước trên thế giới dưới tác động của GD-ĐT, đồng thời nêu bật vai trò của GD-ĐT trong việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam. - “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”, của TS. Bùi Thị Ngọc Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Tác giả đã phân tích rõ vị trí, vai trò, chức năng của nguồn lực trí tuệ - bộ phận trung tâm, làm nên chất lượng và sức mạnh ngày càng tăng của NLCN và là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại. Trên cơ sởø đó, tác giả đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. - “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS. Nguyễn Hữu Dũng, Nxb Lao động-xã hội, Hà Nội, 2003. Tác giả đã trình bày có tính hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố, sử dụng NLCN trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta; đồng thời đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả NLCN trong phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta. Vấn đề con người và NLCN cũng là đề tài nghiên cứu của một số luận văn, luận án, đáng chú ý như: Luận án tiến sĩ: “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Đoàn Văn Khái (2000); Luận án tiến sĩ: “Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Tú Oanh (1999); Luận văn thạc sĩ: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay” của tác giả Vũ Thị Phương Mai (2004)... Nhìn chung, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu làm rõ các vấn đề về NLCN, nguồn lực thanh niên, nguồn nhân lực chất lượng cao và vai trò của những nguồn lực này trong sự nghiệp CNH, HĐH. Qua phân tích thực trạng, các tác giả đã đề xuất nhiều giải pháp để phát huy, phát triển những nguồn lực này trong thời gian tới. Ngoài ra, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã có những công trình, bài viết về vấn đề NLCN và đã được đăng tải trên các tạp chí, các kỷ yếu khoa học… Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp về phát triển NLCN ở tỉnh Bến Tre. Việc đánh giá đúng thực trạng NLCN làm cơ sở thực tiễn quan trọng để tìm ra những phương hướng, giải pháp phát triển và sử dụng hữu hiệu NLCN vẫn là một đề tài cần tiếp tục nghiên cứu, nhất là từ góc độ chính trị - xã hội và từ thực tiễn của một tỉnh như Bến Tre. 3. Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu Mục tiêu Trên cơ sở làm rõ thực trạng NLCN của tỉnh Bến Tre và xu hướng vận động cơ bản của nó, luận văn xây dựng hệ thống những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NLCN trong sự nghiệp CNH, HĐH ở tỉnh Bến Tre trong thời gian tới. Nhiệm vụ - Làm rõ quan niệm về NLCN và tính tất yếu của việc phát triển NLCN trong quá trình CNH, HĐH đất nước. - Khảo sát và phân tích thực trạng NLCN và phát triển NLCN ở Bến Tre hiện nay, trên cơ sở đó dự báo một số xu hướng vận động cơ bản của nguồn lực này trong thời gian tới. - Xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NLCN ở Bến Tre trong thời kỳ CNH, HĐH. Phạm vi nghiên cứu Từ góc độ chính trị-xã hội, đề tài nghiên cứu quá trình phát triển NLCN ở tỉnh Bến Tre từ năm 1996 đến nay và tập trung chủ yếu ở lực lượng lao động (hay dân số hoạt động kinh tế thường xuyên) của tỉnh. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của đề tài Luận văn được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về con người và NLCN, kết hợp với chủ trương, chính sách của Đảng bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre… về các vấn đề có liên quan đến đề tài. Ngoài ra, những công trình nghiên cứu gần đây về vấn đề này được tác giả quan tâm, coi trọng nghiên cứu và kế thừa. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, lôgic lịch sử, kết hợp với các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, thống kê… để nghiên cứu vấn đề phát triển NLCN ở tỉnh Bến Tre dưới góc độ chính trị - xã hội. 5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn - Luận văn góp phần làm rõ thực trạng NLCN và phát triển NLCN ở tỉnh Bến Tre trong sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay. - Luận văn đề xuất một hệ thống những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NLCN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH ở Bến Tre trong những năm tới. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Ý nghĩa lý luận của luận văn Những quan điểm, những kết luận và những kiến nghị của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về vấn đề NLCN nói chung, cũng như vấn đề phát triển NLCN ở tỉnh Bến Tre nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Những kết quả đạt được của luận văn có thể là cơ sở thực tiễn đáng tin cậy để các cấp lãnh đạo, các ngành của tỉnh Bến Tre tham khảo trong quá trình hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển NLCN của tỉnh trong sự nghiệp CNH, HĐH. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết. Chương 1 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC VÀ ĐẶC ĐIỂM CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH BẾN TRE 1.1. NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 1.1.1. Quan niệm về nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con người Quan niệm về nguồn lực con người “Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực” là một khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét nhân tố con người với tư cách là nguồn lực cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Ngày nay, để phát triển nhanh và bền vững, bất cứ quốc gia nào cũng cần phải xác định đúng đắn và huy động có hiệu quả tất cả các nguồn lực. Những thành tựu to lớn mà loài người đạt được trong quá trình phát triển chính là do con người biết khơi dậy và phát huy tổng hợp các nguồn lực. Trong toàn bộ các nguồn lực của phát triển thì NLCN được xác định là quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực. Trong vài thập kỷ trở lại đây, vấn đề NLCN đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, những nghiên cứu về NLCN đã đạt những thành tựu đáng kể, đưa lại những quan niệm ngày càng đầy đủ và đúng đắn về NLCN. Tìm hiểu các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy, quan niệm về NLCN khá đa dạng, được đề cập trên nhiều góc độ, theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó, quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội. Trong lý luận về “vốn”, con người được đề cập đến như một loại vốn (“vốn người”, “tư bản người”), một thành tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất và kinh doanh. Từ cách tiếp cận này, Ngân hàng Thế giới cho rằng: NLCN được hiểu là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay một hoạt động nào đó. Ở đây, NLCN được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như tiền, tài nguyên thiên nhiên… Đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững. Dựa trên cách tiếp cận này, Liên hợp quốc cho rằng NLCN là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước. NLCN ở đây được xem xét chủ yếu ở chất lượng con người và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội. Ở nước ta khái niệm NLCN được sử dụng tương đối rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, trong Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng như các Từ điển Tiếng Việt chưa thấy đưa ra định nghĩa “Nguồn lực con người”. Dù vậy, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau khi bàn về NLCN, về nguồn nhân lực. Giáo sư Viện sĩ TS. Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn lực con người là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [25, tr.328]. Giáo sư TS. Hoàng Chí Bảo cũng cho rằng: “Nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người” [4, tr.14]. Ngoài thể lực và trí lực, theo tác giả "cái làm nên nguồn lực con người là kinh nghiệm sống, đặc biệt là những kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con người, là nhu cầu và thói quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng vào việc tìm tòi, sáng tạo” [4, tr.15]. Xét theo ý nghĩa đó, NLCN bao hàm trong đó toàn bộ sự phong phú, sự sâu sắc, đổi mới thường xuyên các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức và quản lý… Trong quan niệm này, tác giả nhấn mạnh đến kết cấu bên trong của NLCN. Trong lời phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định: Nguồn lực con người là quý báu nhất... Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại [18, tr.9]. Quan niệm này nêu lên một cách toàn diện những yếu tố cần có của người lao động với tư cách là nguồn lao động - nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia. Trong dịp gặp gỡ các nhà doanh nghiệp, các nhà KH-CN các tỉnh, thành phố phía Bắc, Thủ tướng Phan Văn Khải đã khẳng định: “Nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta” [32, tr.2]. Từ một số cách tiếp cận và những nội dung đã dẫn trên, có thể hiểu: Nguồn lực con người là phạm trù dùng để chỉ số dân, cơ cấu dân số, đặc biệt là chất lượng người với tất cả những tiềm năng, năng lực và phẩm chất làm nên sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội. Với cách hiểu này, khái niệm “nguồn lực con người” có nội dung rộng, đề cập đến những mặt cơ bản sau: Thứ nhất, “nguồn lực con người” được biểu hiện ra là người lao động, là lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động), là nguồn lao động (đội ngũ lao động hiện có và sẽ có). Nói đến NLCN còn nói đến quy mô dân số và tốc độ tăng dân số trong một thời kỳ nhất định của một quốc gia, một địa phương. Thứ hai, “nguồn lực con người” phản ánh cơ cấu dân cư, nhất là cơ cấu lao động trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế… Thứ ba, “nguồn lực con người” chủ yếu nói lên chất lượng dân số, đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động trong hiện tại và tiềm năng trong tương lai. Thứ tư, “nguồn lực con người” còn bao hàm cả sự liên hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố nội tại cấu thành nó cũng như sự tác động qua lại giữa NLCN với các nguồn lực khác và với môi trường xung quanh. Đồng thời, nó còn nói lên sự biến đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu dân cư và lực lượng lao động. Thứ năm, “nguồn lực con người” còn chỉ ra rằng: con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực, nguồn lực nội tại, cơ bản trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội. Sức mạnh của NLCN thể hiện ở sức mạnh của thể lực, trí lực, niềm tin, ý chí… ở sự thống nhất biện chứng giữa sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng, không chỉ có trong hiện tại mà còn ở dạng tiềm năng. Như vậy, nói đến NLCN và vai trò của nó phải xem xét con người với tư cách vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Là chủ thể bởi con người khai thác, sử dụng các nguồn lực khác, hơn nữa còn tạo ra nguồn lực mới cho sự tồn tại và phát triển xã hội. Là khách thể, con người trở thành đối tượng được khai thác, cả về trí lực và thể lực cho mục tiêu phát triển xã hội. Với ý nghĩa đó, con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của các quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Bên cạnh khái niệm “nguồn lực con người”, các khái niệm “nguồn nhân lực”, “tài nguyên con người” cũng được sử dụng phổ biến. Theo một số tác giả thì đây là những khái niệm đều được dịch từ cụm từ Human Resources. Theo TS. Đoàn Văn Khái thì trong thực tế, khái niệm “nguồn nhân lực” ngoài nghĩa rộng được hiểu như “nguồn lực con người”, thường còn hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lao động, có khi còn được hiểu là lực lượng lao động. Khái niệm “tài nguyên con người” được sử dụng với ý nhấn mạnh phương diện khách thể của con người, coi con người như một nguồn tài nguyên, một loại của cải quý giá, cần được khai thác triệt để, hợp lý, có hiệu quả, nhất là nguồn tiềm năng trí tuệ trong đó [10, tr.253]. Ngoài ra, còn có thể hiểu một cách đầy đủ hơn về NLCN thông qua việc tìm hiểu mối quan hệ giữa NLCN với các nguồn lực khác và cấu trúc của nguồn lực này. Mối quan hệ giữa nguồn lực con người với các nguồn lực khác Trong mối quan hệ với các nguồn lực khác, NLCN được xem như nguồn lực cơ bản và quyết định các nguồn lực khác cũng như quyết định đối với sự phát triển kinh tế-xã hội. NLCN là nguồn lực của mọi nguồn lực. Khẳng định vai trò quyết định của NLCN đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, điều đó không có nghĩa là tách NLCN một cách biệt lập với các nguồn lực khác. Ngược lại, khi khẳng định NLCN đóng vai trò quyết định thì điều đó có nghĩa là đã đặt trên cơ sở và trong mối quan hệ với các nguồn lực khác. Sự phát triển nhanh chóng của mỗi quốc gia, dân tộc, nhất là sự thành công của quá trình CNH, HĐH đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định, cần phải có nhiều nguồn lực. Các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý thuận lợi… đều vô cùng quan trọng, thiếu chúng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Song, các nguồn lực này dù phong phú, đa dạng và giàu có đến mấy cũng chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng và tự nó không thể phát huy tác dụng. Chúng chỉ thực sự có ý nghĩa và phát huy tác dụng thông qua hoạt động có ý thức, sáng tạo của con người, nghĩa là được con người sử dụng. Như vậy, chỉ có NLCN mới có khả năng khởi động và phát huy tác dụng của các nguồn lực khác. Sở dĩ như vậy là vì con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý chí, biết cải tạo, lợi dụng, khai thác các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người. Tất nhiên, quá trình đó phải phù hợp với quy luật khách quan. Với ý nghĩa đó, con người trở thành yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, là "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại" [37,tr.430]. Hơn nữa, các nguồn lực khác đều là hữu hạn và dần dần sẽ bị cạn kiệt trong quá trình khai thác và sử dụng, thậm chí nếu khai thác bừa bãi sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, đe doạ sự sống còn của loài người. Trong khi đó, NLCN mà bộ phận cốt lõi là trí tuệ, lại có tiềm năng vô tận, không bao giờ bị cạn kiệt trong quá trình khai thác, sử dụng. Thậm chí, nó còn có khả năng phục hồi và tái sinh, tự đổi mới, phát triển không ngừng nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý. Trong thời đại ngày nay, việc khẳng định vai trò quyết định của NLCN so với các nguồn lực khác và xem nó là động lực quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu không thấy vai trò quan trọng của các nguồn lực khác đối với sự phát triển NLCN. Điều đó có nghĩa là NLCN luôn bị quy định bởi các nguồn lực khác. Bởi lẽ, con người là một thực thể tự nhiên - xã hội. Để tồn tại và phát triển, con người phải quan hệ với tự nhiên, khai thác tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với sức lao động và trí tuệ của mình nhằm cải tạo tự nhiên tạo ra của cải vật chất nuôi sống con người. Mặt khác, chính từ thực tiễn cuộc sống và hoạt động lao động sản xuất, con người không ngừng phát triển trí tuệ cũng như hoàn thiện về thể chất. Như vậy, trong mối quan hệ với các nguồn lực khác, NLCN giữ vai trò quyết định. Các nguồn lực khác chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với NLCN. Xét đến cùng, nếu thiếu sự hiện diện của NLCN với trí tuệ và lao động của họ, thì mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa, thậm chí, khái niệm nguồn lực cũng không còn ý nghĩa. Cấu trúc của nguồn lực con người Việc xác định cấu trúc của NLCN là quá trình xem xét từng bộ phận cấu thành NLCN theo một hệ thống chỉnh thể, từ đó phát hiện ra cơ cấu và mối quan hệ giữa chúng tạo thành hệ thống, cấu trúc của NLCN. Nói đến NLCN là nói đến số lượng và chất lượng con người, là sự kết hợp giữa trí lực, thể lực, đạo đức và những năng lực, phẩm chất khác của con người như ý chí, tình cảm… Mỗi yếu tố có vị trí và vai trò nhất định trong cấu trúc NLCN, song giữa chúng có mối quan hệ gắn bó, tác động qua lại với nhau, tạo nên sự phát triển toàn diện của NLCN. Trước hết, NLCN được xem xét ở mặt

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docluan van1.doc
  • docMục lục.doc
Tài liệu liên quan