Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Lê Hoàng Việt

Giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc là giai đoạn mà quan hệ chính trị ngoại giao giữa Việt Nam và Lào có những nét độc đáo rất hiếm thấy trong lịch sử phong trào cách mạng thế giới. Để chiến đấu chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ, hai nước đã thành lập Liên quân Việt - Lào; những chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã sang Lào sát cánh chiến đấu bên lực lượng vũ trang Pathet Lào. Tinh thần chiến đấu ngoan cường, sự hy sinh xương máu và phối hợp chặt chẽ giữa những người con ưu tú của hai dân tộc đã góp phần đưa sự nghiệp kháng chiến chống thực dân cũ của hai nước đi đến thắng lợi vẻ vang, với việc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương.

docx10 trang | Chia sẻ: tieuaka001 | Ngày: 21/09/2020 | Lượt xem: 14 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Lê Hoàng Việt, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM NĂM 2017 Người tham gia: Họ và tên: Lê Hoàng Việt Ngày sinh: 1983 Giới tính: Nam Nghề nghiệp: Công an Dân tộc: Kinh Tôn giáo: không Đơn vị: Chi đoàn Công an, Đoàn phường Phước Long, Nha Trang, Khánh Hoà Nơi thường trú: Số điện thoại: 0989.394.039 NỘI DUNG BÀI DỰ THI Trong khuôn khổ bài viết tham gia cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017, tôi xin trình bày về quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam từ năm 1976 đến nay và ý nghĩa Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào ngày 18 tháng 7 năm 1977. Trước hết, xin giới thiệu một chút về nước Lào anh em. Lào là quốc gia Đông Nam Á trong bán đảo Đông Dương có chung đường biên giới dài 2069 km trải dài suốt 10 tỉnh của Việt Nam tiếp giáp với 10 tỉnh phía Lào. Lịch sử đã khẳng định quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là quan hệ đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội. Khi cả khối Xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, hai Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vẫn vững vàng. Chính thể do Đảng lãnh đạo vẫn vững bước, hai đất nước, hai dân tộc cùng sánh vai xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, phát triển kinh tế theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, đập tan mọi âm mưu gây chia rẽ, phá hoại mối quan hệ đoàn kết của các thế lực thù địch phản động. Tình hữu nghị, đoàn kết giữa hai Đảng, hai nước Việt-Lào và sự gắn bó thủy chung, keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cay-xỏn Phom-vi-hản trực tiếp gây dựng, được các thế hệ lãnh đạo kế tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý trọng, nâng niu và dày công vun đắp. Trải qua nhiều giai đoạn và biến cố của lịch sử, mối quan hệ Việt-Lào được tôi luyện và hun đúc bằng công sức và xương máu của biết bao anh hùng liệt sỹ, bằng sự hy sinh phấn đấu của nhiều thế hệ người Việt Nam và Lào và đã thực sự trở thành mối quan hệ truyền thống, rất đặc biệt, rất thủy chung và trong sáng. Chủ tịch Cay-xỏn Phom-vi-hản đã từng nói: “Trong lịch sử cách mạng thế giới đã có nhiều tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và toàn diện như vậy”. Là hai nước láng giềng rất mực thân thiết, gần gũi, quan hệ gắn kết nghĩa tình anh em giữa hai dân tộc được hình thành và hun đúc trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đặc biệt trong hơn tám thập kỷ qua kể từ thời kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời và lãnh đạo phong trào cách mạng chung, mối quan hệ truyền thống tốt đẹp, sự gắn bó thủy chung giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Lào được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo kế tục của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dày công vun đắp đã trở thành tài sản vô giá của cả hai dân tộc và là quy luật phát triển chung của cách mạng hai nước trên con đường phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc là giai đoạn mà quan hệ chính trị ngoại giao giữa Việt Nam và Lào có những nét độc đáo rất hiếm thấy trong lịch sử phong trào cách mạng thế giới. Để chiến đấu chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ, hai nước đã thành lập Liên quân Việt - Lào; những chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã sang Lào sát cánh chiến đấu bên lực lượng vũ trang Pathet Lào. Tinh thần chiến đấu ngoan cường, sự hy sinh xương máu và phối hợp chặt chẽ giữa những người con ưu tú của hai dân tộc đã góp phần đưa sự nghiệp kháng chiến chống thực dân cũ của hai nước đi đến thắng lợi vẻ vang, với việc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương. Thời kỳ sau đó, tinh thần đoàn kết Việt Nam - Lào tiếp tục được hun đúc và tôi luyện hơn khi hai nước không ngừng hỗ trợ nhau trên các mặt trận quân sự và đối ngoại, làm thất bại mọi âm mưu phá hoại và tiến hành chiến tranh của chủ nghĩa thực dân mới. Ngày 5 tháng 9 năm 1962, Việt Nam và Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử quan hệ hai nước. Liên minh chiến đấu của quân và dân hai nước Việt - Lào ngày càng được tăng cường. Dãy Trường Sơn hùng vĩ với hai nửa Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây đã trở thành biểu tượng sinh động của mối quan hệ keo sơn “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” trong những năm tháng gian khổ nhưng đầy vinh quang, cùng góp phần to lớn giúp nhân dân và các lực lượng vũ trang hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác mà đỉnh cao là Đại thắng Mùa Xuân 1975 tại Việt Nam và Chiến thắng ngày 2 tháng 12 năm 1975 tại Lào. Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng đất nước trong hòa bình và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, quan hệ hai nước chuyển từ quan hệ đoàn kết trong chiến đấu chống kẻ thù chung sang quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác. Hiệp ước có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tăng cường và mở rộng mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong thời kỳ mới; tạo cơ sở để hai nước thúc đẩy ký kết hàng loạt các thỏa thuận hợp tác sau này. Trong quá trình hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau sau chiến tranh, Việt Nam đã cử nhiều đoàn chuyên gia sang giúp Lào bảo đảm an ninh, ổn định đời sống, khôi phục sản xuất và phát triển kinh tế. Quan hệ hợp tác đó được thực hiện trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; đề cao ý chí tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi. Trong công cuộc đổi mới của mỗi nước hơn 30 năm qua, Việt Nam và Lào đều giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Quan hệ hợp tác gắn bó giữa hai nước Việt - Lào được đẩy mạnh và mở rộng trên nhiều lĩnh vực. Quan hệ chính trị giữa hai nước đã, đang phát triển trên một nền tảng sâu rộng và ngày càng gắn bó, tin cậy. Hai bên thường xuyên tiếp xúc cấp cao giữa lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và địa phương; Ủy ban liên Chính phủ thường niên được duy trì và củng cố. Giao lưu giữa các tổ chức, các tầng lớp nhân dân được đẩy mạnh với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Đặc biệt, gần đây nhất là các chuyến thăm chính thức nước ngoài đầu tiên trên cương vị mới nhiệm kỳ 2016 - 2020 của Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào Bun-nhăng Vô-la-chit tới Việt Nam và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tới Lào; các chuyến thăm của các đồng chí Bộ Chính trị hai bên đã góp phần đưa quan hệ hai Đảng, hai nước lên một tầm cao mới. Về phương diện kinh tế, hai nước đã thiết lập cơ chế Ủy ban Liên Chính phủ để cụ thể hóa chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật thông qua việc xây dựng nội dung hợp tác của từng thời kỳ, từng giai đoạn và hàng năm. Cho tới nay (2017), Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam - Lào đã tiến hành được 39 kỳ họp định kỳ hàng năm luân phiên tại mỗi nước. Tại kỳ họp lần thứ 39 tổ chức vào hai ngày 7-8/2/2017 tại Hà Nội dưới sự chủ trì của Thủ tướng Việt Nam Nguyên Xuân Phúc và Thủ tướng Lào Thongloun Sisoulith, hai bên đánh giá cao kết quả hợp tác giữa hai nước và thống nhất nâng cao hơn nữa hiệu quả hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, thống nhất tập trung thực hiện tốt chỉ đạo của hai Bộ Chính trị, thúc đẩy quan hệ chính trị - đối ngoại - an ninh quốc phòng, đầu tư, thương mại, du lịch, mở rộng hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư các dự án hạ tầng giao thông kết nối hai nước, hợp tác quản lý sử dụng bền vững nguồn nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, v.v. Nhờ các chính sách ưu tiên, ưu đãi hợp lý của cả hai bên nên thương mại và đầu tư Việt Nam - Lào tăng trưởng khá nhanh trong những năm gần đây, tạo nền tảng vật chất để liên kết và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước. Từ năm 1989 đến nay, đầu tư của Việt Nam vào Lào đã đạt giá trị gần 4 tỷ USD. Năm 2016, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Lào đạt 801 triệu USD; trong đó, nhập khẩu của Việt Nam từ Lào đạt 342 triệu USD và xuất khẩu từ Việt Nam sang Lào đạt 459 triệu USD. Các dự án đầu tư của Việt Nam vào Lào tập trung có hiệu quả trong các lĩnh vực thủy điện, khai khoáng, giao thông vận tải, trồng cây công nghiệp Không chỉ giới hạn trong hợp tác kinh tế, hợp tác trên các lĩnh vực khác cũng được quan tâm thúc đẩy. Hợp tác giáo dục, đào tạo đã và đang là lĩnh vực được hai bên ưu tiên và được nâng lên cả về số lượng và chất lượng. Hai bên cũng hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp và phát triển nông thôn. Hợp tác giữa các địa phương giáp biên được chú trọng thúc đẩy, với việc hình thành các khu kinh tế và giao lưu buôn bán qua các cửa khẩu quốc tế và quốc gia. Hợp tác an ninh - quốc phòng tiếp tục duy trì tốt với mức độ tin cậy cao. Cùng với sự hợp tác trong khuôn khổ song phương, tình đoàn kết anh em giữa Việt Nam và Lào còn được thể hiện rõ nét tại các diễn đàn khu vực và quốc tế như LHQ, Hiệp hội các quốc gia Đông - Nam Á (ASEAN), Tổ chức hợp tác kinh tế chiến lược ba dòng sông (ACMECS), Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), hợp tác bốn nước Campuchia - Lào -Myanmar - Việt Nam (CLMV), tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Camp-chia, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của mỗi nước ở khu vực và trên thế giới. Trải qua 55 năm thử thách, mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam càng thêm khẳng định là mối quan hệ mẫu mực, trong sáng, rất mực thủy chung, vừa là thành quả cách mạng, vừa là tài sản chung vô giá được xây dựng bằng máu và mồ hôi của nhiều thế hệ nhân dân hai nước, là minh chứng cho mối quan hệ đặc biệt hiếm có giữa hai dân tộc như lời Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản đã từng nói “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông”, hay như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phác họa “Việt - Lào hai nước chúng ta, tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, mối quan hệ hợp tác quan hệ Việt Nam - Lào đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức gay gắt từ sự phát triển của bản thân mỗi nước và từ môi trường quốc tế, khu vực. Hiệu quả của một số chương trình hợp tác chưa thực sự tương xứng với mong muốn, nỗ lực của Chính phủ và nhân dân các nước; chưa phát huy thật hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của mỗi quốc gia và những cơ hội, thuận lợi mà xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa mang lại. Việc xử lý mối quan hệ lợi ích giữa các quốc gia và lợi ích quốc tế vẫn luôn là vấn đề lớn, ẩn chứa nhiều yếu tố phức tạp và chi phối mối quan hệ hợp tác giữa hai nước. Bên cạnh đó, cũng cần phải thẳng thắn thừa nhận mối quan hệ Việt Nam - Lào còn bị chi phối bởi những động thái tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn tác động tới khiến việc duy trì quan hệ và sự gắn kết, đặc biệt là tầm ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai nước gặp không ít khó khăn, thách thức. Một số khía cạnh trên những vấn đề về dân tộc, tôn giáo, di cư xuyên biên giới,... đang thực sự là những trở ngại, thậm chí ẩn chứa những nguy cơ làm rạn nứt mối quan hệ Việt Nam - Lào hiện tại và tương lai. Trong thời gian tới, trước những biến động phức tạp và khó lường của tình hình thế giới và yêu cầu phát triển của mỗi nước, hai nước đặt ưu tiên cao nhất là cùng phấn đấu tập trung mọi nỗ lực nhằm nâng quan hệ hữu nghị truyền thống tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Việt - Lào lên tầm cao mới, với phương châm thực chất, chất lượng và hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, phát triển kinh tế bền vững, hội nhập ngày càng sâu rộng và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Để đạt được mục tiêu này, Lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí quyết tâm chỉ đạo các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương hai nước phấn đấu phối hợp làm tốt những trọng tâm sau: Một là, không ngừng củng cố, giáo dục, phát triển và làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ chính trị đặc biệt hiếm có không chỉ ở lãnh đạo cấp cao mà thấm sâu xuống các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ; để thế hệ trẻ hai nước - những người sẽ viết tiếp trang sử quan hệ hai nước - hiểu và trân trọng những năm tháng lịch sử hào hùng của hai dân tộc, hiểu được tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào, Lào - Việt là bài học lịch sử thiêng liêng, là tài sản vô giá mà thế hệ trẻ hai nước phải có trách nhiệm duy trì, bảo vệ và phát huy vì sự trường tồn và phát triển của hai dân tộc Hai là, nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế song phương tương xứng với quan hệ chính trị tốt đẹp sẵn có. Phát triển hợp tác giữa các vùng, miền, các địa phương có biên giới liên kề giữa hai nước và hoàn thiện hơn nữa các chính sách ưu tiên, ưu đãi đã dành cho nhau. Chủ động thúc đẩy hợp tác ở cả ba cấp: Chính phủ với Chính phủ, địa phương với địa phương và doanh nghiệp với doanh nghiệp nhằm tạo sự gắn kết và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nền kinh tế. Trong từng thời kỳ, xác định một số trọng tâm hợp tác kinh tế cụ thể, phù hợp với khả năng, nhu cầu của mỗi nước và mang lại lợi ích cho cả hai phía; tập trung tổ chức thực hiện triệt để, đồng thời thường xuyên theo dõi giám sát để tháo gỡ kịp thời các vướng mắc phát sinh. Ba là, tiếp tục tăng cường sự hợp tác trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và cùng phối hợp nhằm chống lại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của mỗi nước, chia rẽ quan hệ hai nước. Bốn là, tích cực trao đổi thông tin về tình hình quốc tế và sự phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhất là trong khuôn khổ các tổ chức mà hai bên cùng là thành viên. Năm là, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý; đồng thời tăng cường trao đổi học thuật, lý luận và khoa học xã hội giữa hai nước. Là nước láng giềng anh em gần gũi, nhân dân Việt Nam luôn tự hào có nhân dân Lào là người bạn thủy chung, son sắt, trong sáng trong suốt thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước ngày nay. Mỗi người dân Việt Nam đều vui mừng chứng kiến các thành tựu, những đổi thay nhanh chóng đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ trên đất nước Triệu Voi tươi đẹp và chân thành mong muốn nhân dân các bộ tộc Lào anh em, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào sẽ xây dựng thành công một nước Lào phồn vinh và vững mạnh, có quan hệ đối ngoại rộng mở, có vai trò và vị thế không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Kỷ niệm 55 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 40 năm ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt – Lào, chúng ta cùng khẳng định quyết tâm phấn đấu, kế thừa và vun đắp tình đoàn kết đặc biệt, quan hệ hữu nghị thủy chung gắn bó và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt – Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước, cũng như vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Đã gần nửa thế kỷ trôi qua nhưng trong ký ức những cựu chiến binh quân tình nguyện, thời gian sống, chiến đấu, công tác trên đất bạn Lào vẫn luôn là khoảng thời gian vô cùng đáng nhớ. Sau đây là ký ức của cựu chiến binh Phạm Văn Khiêm và Đỗ Quang Hịch. Mỗi dịp được gặp nhau, trò chuyện về những năm tháng cùng chia ngọt sẻ bùi trong sự đùm bọc của nhân dân các bộ tộc Lào, mỗi cựu chiến binh quân tình nguyện như được sống lại một thời gian khổ nhưng đầy tự hào về cuộc chiến chính nghĩa, về tình cảm gắn bó máu thịt, thủy chung giữa quân đội, nhân dân hai nước! Trong chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, ngay từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, lực lượng quân sự và chuyên gia thuộc nhiều ngành của Việt Nam đã có mặt thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả tại đất nước Lào anh em. Tháng 10 năm 1949 Ban thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định các lực lượng quân sự của Việt Nam thực hiện nhiệm vụ Quốc tế tại Lào được tổ chức thành hệ thống riêng và lấy danh nghĩa là Quân tình nguyện. Việc giúp nước bạn Lào được xác định như là “giúp chính mình”, do vậy hàng chục vạn chuyên gia, cán bộ, chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, chiến đấu dũng cảm, sẵn sàng hy sinh chống kẻ thù chung, giành và bảo vệ vững chắc nền độc lập của hai dân tộc. Trải qua các thời kỳ, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đã phát huy truyền thống quân đội anh hùng, vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, cùng nhân dân và các lực lượng vũ trang Lào chiến đấu, chiến thắng kẻ thù chung. Qua thống kê, cả nước có hơn 5 vạn cán bộ chiến sỹ bị thương, hơn 4 vạn cán bộ chiến sỹ hy sinh trên đất bạn Lào. Riêng Hà Nam có hàng ngàn người con đứng trong hàng ngũ các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự trực tiếp góp sức giúp cách mạng Lào. Các đồng chí đã dũng cảm chiến đấu, công tác, lập công xuất sắc, nhiều người đã ngã xuống trên đất bạn. Là một trong những người từng tham gia "Chiến dịch Z"- Chiế n dịch giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa khô năm 1971, cựu chiến binh Phạm Văn Khiêm, xã Thanh Phong (Thanh Liêm), Trưởng Ban Liên lạc Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào tỉnh Hà Nam kể: “Tháng 5 năm 1971, tôi nhập ngũ vào đơn vị thuộc tiểu đoàn 371, Quân khu Tây Bắc. Tháng tám năm ấy, sau đợt huấn luyện đặc biệt, tôi được điều động bổ sung vào Trung đoàn 335, Quân khu Tây Bắc chuyên thực hiện nhiệm vụ giúp cách mạng Lào. Nhận lệnh, đơn vị tôi hăm hở lên đường hành quân sang nước bạn, bắt đầu những năm tháng sống chiến đấu, công tác trên đất nước Triệu Voi. Trong chiến tranh gian khổ ác liệt, giành giật từng tấc đất, từng quả đồi với quân địch, sống trong chốn “rừng thiêng, nước độc” nhưng điều ấn tượng với tôi và các đồng đội thời kỳ đó là tình cảm chân thành, nồng hậu của nhân dân Lào đối với bộ đội tình nguyện Việt Nam. Mỗi khi có dịp hành quân qua làng bản, bà con các bộ tộc Lào chào đón bộ đội tình nguyện Việt Nam như những người con thân thiết trở về gia đình, luôn giành cho các anh những điều kiện ăn ở tốt nhất. Chính điều đó đã tiếp thêm nghị lực, là nguồn cổ vũ động viên những người lính quân tình nguyện Việt Nam khắc phục khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặc biệt mà Đảng, nhà nước, quân đội tin tưởng giao phó”. Trong câu chuyện sôi nổi đong đầy cảm xúc hoài niệm của những cựu chiến binh quân tình nguyện Việt nam trong cuộc gặp mặt gần đây có nhiều chi tiết thật ấn tượng, xúc động. Với cựu chiến binh Đỗ Quang Hịch (thôn Sông, xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam), hình ảnh mà ông nhớ mãi và còn lưu lại gần như vẹn nguyên tới tận bây giờ là tấm ảnh thời trai trẻ của mình tại chiến trường Lào do các nhà báo quân đội thực hiện sau một trận chiến đấu ác liệt. Trận chiến đó diễn ra vào đêm mồng hai Tết Mậu Ngọ 1978, đơn vị ông được giao nhiệm vụ phối hợp giải phóng Nậm Pênh (một vị trí quan trọng thuộc tỉnh Xiêng Khoảng). Đại đội ông phụ trách mũi tấn công chủ yếu đánh Đồi Xanh, cao điểm 1690, hai chốt phòng thủ quan trọng bảo vệ Nậm Pênh. Khoảng 5 giờ sáng, bộ đội ta triển khai xong đội hình và được lệnh nổ súng, tạo đòn phủ đầu bất ngờ với quân địch. Mũi tấn công phát triển thuận lợi, các đơn vị quân tình nguyện phối hợp đánh tan đội hình địch, một số quân địch còn lại chạy tán loạn. Thừa thắng, đơn vị cơ động nhanh đánh tiếp vào Mường Om, thọc sâu vào Thẳm Lô chiếm điểm cao 1822 và tổ chức chốt chặn quân địch tại đây. Gần sáng hôm sau địch tổ chức quân phản kích hòng chiếm lại Điểm cao 1822. Giằng co gần hai giờ, cuối cùng địch không những không đạt được ý đồ mà còn tổn thất nặng nề, buộc chúng phải rút lui, quân ta giữ vững chốt. Sau trận đánh ấy, đơn vị ông Hịch được tuyên dương khen thưởng, các nhà báo trên mặt trận lập tức lên chốt thu thập thông tin kết quả trận đánh, ghi lại hình ảnh cán bộ chiến sỹ đại đội 11, tiểu đoàn 3, trung đoàn 335 trong niềm vui chiến thắng (nhà báo tên Đồng). Trong tấm ảnh còn được trân trọng lưu giữ đến tận bây giờ, ông Hịch cùng những đồng đội thân yêu của mình rạng ngời với nét mặt hân hoan bởi niềm vui lập công xuất sắc. Những chiến công đó góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và bảo vệ Tổ quốc của hai dân tộc Việt - Lào anh em. Với cựu chiến binh Phạm Văn Khiêm, Đỗ Quang Hịch và nhiều đồng đội đã từng là quân tình nguyện và chuyên gia quân sự giúp cách mạng Lào, quãng thời gian cầm súng trên xứ sở Triệu Voi dường như không hề cảm thấy khoảng cách địa lý xa xôi giữa hai đất nước mà như được sống, công tác, chiến đấu trên chính quê hương, đất nước mình. Bởi thế , tới tận bây giờ mỗi tên núi, tên bản, mỗi căn cứ, mỗi điểm cao...trên đất nước bạn Lào anh em vẫn còn in đậm trong tâm trí những người cựu chiến binh quân tình nguyện Việt nam. Những kỉ niệm trong cuộc đời quân ngũ ấy sẽ maìla niềm tự hào đối với mỗi cựu chiến binh quân tình nguyện, góp phần tô thắm truyền thống tốt đẹp láng giềng hữu nghị Việt - Lào “Mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxle_hoang_viet_0175.docx