X Quang trong bệnh thận tiết niệu (Kỳ 3+5)

* Thận bình thường:

- Ở phim chụp 5 -7 phút sau tiêm thuốc cản quang đã thấy thuốc hiện

hình ngấm đều ở 2 thận, chứng tỏ thuốc đã ngấm vào nhu mô thận và bài tiết qua

đường niệu.

-15 phút sau tiêm thấy hiện hình thuốc rõ ở đài-bể thận, có thể thấy

thận và đài bể thận có hình dạng kích thước bình thường, mỗi quả thận có 3 nhóm

đài thận to, mỗi đài to chia ra 2 -3 đài thận nhỏ, mỗi đài thận nhỏ tận cùng bằng

hình càng cua. Nhóm đài thận trên hướng lên trên, nhóm đài thận giữa hướng ra

ngoài, nhóm đài thận dưới hướng xuống dưới và ra ngoài.

-Niệu quản: có chỗ thắt, chỗ phình, nhưng không to, đường kính 0,5 -0,7

cm, niệu quản chạy dọc theo hai bên cột sống.

* Bệnh lý:

+ Chức năng:

-Không thấy thuốc cản quang ngấm qua thận do:

. Thận mất hoàn toàn chức năng.

. Có thể do một nguyên nhân nào đó gây phản xạ ức chế thận, thận im

lặng không đáp ứng việc ngấm thuốc.

. Không có thận ở vị trí bình thường,thận lạc chỗ.

-Có ngấm thuốc cản quang nhưng chậm so với bình thường do chức

năng thận bị suy giảm nhưng chưa mất hoàn toàn (nếu trên 30 phút không thấy

thuốc bài tiết ở đài-bể thận thì chức năng bài tiết đã giảm). Trong trường hợp này

cần chụp thêm 1 phim sau 2 h để đánh giá thận đã mất chức năng hoàn toàn hay

chưa.

+ Hình thể: có thể có biến dạng về hình thể như sau:

-Hình ảnh các đài-bể thận dãn căng thành từng chùm tròn do chít tắc ở

phía dưới.

-Hình ảnh khuyết các đài-bể thận do các khối u ác tính.

-Hình ảnh đài-bể thận kéo dài khoảng cách giữa các đài thận rộng do

các khối nang trong thận

pdf5 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 20/12/2013 | Lượt xem: 790 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu X Quang trong bệnh thận tiết niệu (Kỳ 3+5), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
X Quang trong bệnh thận tiết niệu (Kỳ 3) 2.3.3. Nhận định kết quả: * Thận bình thường: - Ở phim chụp 5 - 7 phút sau tiêm thuốc cản quang đã thấy thuốc hiện hình ngấm đều ở 2 thận, chứng tỏ thuốc đã ngấm vào nhu mô thận và bài tiết qua đường niệu. - 15 phút sau tiêm thấy hiện hình thuốc rõ ở đài-bể thận, có thể thấy thận và đài bể thận có hình dạng kích thước bình thường, mỗi quả thận có 3 nhóm đài thận to, mỗi đài to chia ra 2 - 3 đài thận nhỏ, mỗi đài thận nhỏ tận cùng bằng hình càng cua. Nhóm đài thận trên hướng lên trên, nhóm đài thận giữa hướng ra ngoài, nhóm đài thận dưới hướng xuống dưới và ra ngoài. - Niệu quản: có chỗ thắt, chỗ phình, nhưng không to, đường kính 0,5 - 0,7 cm, niệu quản chạy dọc theo hai bên cột sống. * Bệnh lý: + Chức năng: - Không thấy thuốc cản quang ngấm qua thận do: . Thận mất hoàn toàn chức năng. . Có thể do một nguyên nhân nào đó gây phản xạ ức chế thận, thận im lặng không đáp ứng việc ngấm thuốc. . Không có thận ở vị trí bình thường, thận lạc chỗ. - Có ngấm thuốc cản quang nhưng chậm so với bình thường do chức năng thận bị suy giảm nhưng chưa mất hoàn toàn (nếu trên 30 phút không thấy thuốc bài tiết ở đài-bể thận thì chức năng bài tiết đã giảm). Trong trường hợp này cần chụp thêm 1 phim sau 2 h để đánh giá thận đã mất chức năng hoàn toàn hay chưa. + Hình thể: có thể có biến dạng về hình thể như sau: - Hình ảnh các đài-bể thận dãn căng thành từng chùm tròn do chít tắc ở phía dưới. - Hình ảnh khuyết các đài-bể thận do các khối u ác tính. - Hình ảnh đài-bể thận kéo dài khoảng cách giữa các đài thận rộng do các khối nang trong thận. - Hình ảnh đài-bể thận nham nhở, gặp trong lao thận. - Các hình ảnh dị tật bẩm sinh: thận lạc chỗ, thận đơn, thận móng ngựa, chít hẹp chỗ nối niệu quản-bàng quang. 3. Chụp niệu quản bể thận thận ngược dòng có thuốc cản quang (uretero pyelographie retrograde, UPR). 3.1. Mục đích: - Phát hiện hẹp hoặc tắc niệu quản do sỏi hoặc các nguyên nhân khác; nếu còn nghi ngờ sỏi cản quang niệu quản thì chụp thận ngược dòng là phương pháp chẩn đoán xác định có giá trị. - Nhằm phát hiện hình đài-bể thận niệu quản trong trường hợp chụp thận thuốc tĩnh mạch không ngấm. 3.2. Chỉ định, chống chỉ định: + Chỉ định: Tất cả các trường hợp không chụp được UIV hoặc chụp UIV cho kết quả không rõ. Tìm các đường dò lưu thông từ thận sang hệ thống bạch huyết. + Chống chỉ định: Khi có nhiễm khuẩn đường niệu: viêm bàng quang, viêm niệu đạo vì dễ gây viêm bể thận ngược dòng. 3.3. Phương pháp: Đưa sonde ngược dòng từ niệu đạo vào bàng quang lên niệu quản vào bể thận qua ống soi bàng quang, bơm 12 - 15 ml dung dịch thuốc cản quang qua sonde rồi chụp phim thứ nhất ngay sau khi bơm thuốc và phim thứ hai sau 5 phút. 3.4. Đánh giá kết quả: Có thể thấy các hình ảnh bất thường: - Thấy rõ hình ảnh đài-bể thận- niệu quản với các hình ảnh bệnh lý như phần chụp UIV đã mô tả. - Xác định vị trí các dị vật hoặc các đoạn chít tắc trên thận hoặc. - Thấy được các đường dò lưu thông từ thận sang hệ bạch huyết. + Ưu điểm của phương pháp: đưa thuốc trực tiếp vào bể thận, thuốc không bị pha loãng, nên đài bể thận rõ; có thể kết hợp rửa bể thận rồi đưa thuốc kháng sinh vào bể thận và lấy nước tiểu từ bể thận để xét nghiệm từng bên thận. + Nhược điểm: chỉ biết được hình dáng đài-bể thận mà không biết được hình thái thận, chức năng thận, dễ gây nhiễm khuẩn từ dưới lên, nếu bơm mạnh có thể gây vỡ đài bể thận, là kỹ thuật tương đối phức tạp nên được chỉ định khi thật cần thiết.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfx_quang_trong_benh_than_tiet_nieu_ky_3_953.pdf
  • pdfx_quang_trong_benh_than_tiet_nieu_ky_5_4116.pdf
Tài liệu liên quan