Chuyên đề Phương hướng qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010 của phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn

Chi Lăng là một phường thuộc thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng sơn. Là một trong những đô thị thuộc vùng trung du miền núi phía Đông Bắc của tổ quốc.Chi Lăng nổi tiếng là một cửa ải của nước ta trong suốt thời kỳ chống giặc phương bắc. Nơi đây từng với chiến công lịch sử: Lê Lợi cùng quân dân ta chặn đánh quân Minh, chém tướng giặc Liễu Thăng và đánh tan 10 vạn quân Minh, mở ra một thời kì độc lập cho đất nước. Nhắc đên Chi Lăng, mỗi người dân việt nam nói chung và người dân Lạng Sơn nói riêng như gợi nhớ về tinh thần anh hùng dân tộc, tài trí của người việt nam trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc.

Ngày nay, Chi Lăng đã đổi khác. Từ một vùng dân ở gần biên giới với Trung Quốc, Chi Lăng đã phát triển lên thành một phường lớn của thành phố Lạng Sơn. Là nơi tập trung các cơ quan quan trọng của tỉnh Lạng Sơn. Dân số tăng nhanh, cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển của mạnh và cuộc sống của người dân nơi đây được nâng cao hơn. Nhưng cũng từ đây, vấn đề sử dụng đất đai diễn ra rất phức tạp.Tình trạng chuyển mục đích, mua bán và xây dựng trái phép diễn ra ngày càng nhiều.

Uỷ Ban Nhân Dân phường đã dùng nhiều biện pháp để hạn chế tình trạng sử dụng đất trái phép.Tuy nhiên cần có một căn cứ pháp lí chuẩn mực để quản lí tốt hơn tình hình sử dụng đất đai của toàn phường. Uỷ Ban Nhân Dân phường Chi Lăng, với sự giúp đỡ của phòng địa chính thành phố Lạng Sơn, trung tâm chuyển giao công nghệ và dịch vụ tư vấn địa chính tiến hành chuẩn bị hồ sơ, tài liệu cần thiết để tiến hành lập qui hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010.

Qui hoạch sử dụng đất đai phường Chi Lăng là một trong những yêu cầu cần thiết cho công tác quản lý đất đai trên địa bàn phường. Qua quá trình thực tập tại trung tâm chuyển giao công nghệ và dịch vụ tư vấn địa chính-viện điều tra qui hoạch sử dụng đất đai.Tôi nhận thấy qui hoạch sử dụng đất đai hoạch đang là một vấn đề nổi cộm hiện nay. Do vậy, tôi chọn vấn đề qui hoạch sử dụng đất đai của phường Chi Lăng làm nội dung của bản báo cáo thực tập của mình.

Nội dung của bản báo cáo gồm các nội dung chính sau:

-chươngI:cơ sở lí luận-khoa học của qui hoạch sử dụng đất đai

ChươngII: điều kiện tự nhiên-kinh tế –xã hội của phường Chi Lăng

ChươngIII: tình hình quản lývà hiện trang sử dụng đất đai của phường Chi Lăng

ChươngIV: Phương án qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của phường Chi Lăng đến năm 2010

Chương V: Những giải pháp chủ yếu để thực hiện qui hoạch sử dụng đất đai phường Chi Lăng

Ngoài ra, còn một số bảng biểu kèm theo, phụ lục minh hoạ

Qui hoạch sử dụng đất đai của phường Chi Lăng phải đạt được một số yêu cầu và hướng tới các mục tiêu sau:

+Đánh giá tình hình kinh tế-xã hội -đất đai của phường Chi Lăng

+Xác định nhu cầu sử dụng đất đai của các chủ thể sử dụng đất trênđịa bàn phường Chi Lăng

+Phân bổ hợp lí qũi đất đai trên địa bàn phường Chi Lăng

+Phải có tính thực tiễn cao và áp dụng phù hợp cho phường Chi Lăng

+Phải có tínhdự báo khoa học và chính xác

 

doc72 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 855 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang nội dung tài liệu Chuyên đề Phương hướng qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010 của phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời mở đầu Chi Lăng là một phường thuộc thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng sơn. Là một trong những đô thị thuộc vùng trung du miền núi phía Đông Bắc của tổ quốc.Chi Lăng nổi tiếng là một cửa ải của nước ta trong suốt thời kỳ chống giặc phương bắc. Nơi đây từng với chiến công lịch sử: Lê Lợi cùng quân dân ta chặn đánh quân Minh, chém tướng giặc Liễu Thăng và đánh tan 10 vạn quân Minh, mở ra một thời kì độc lập cho đất nước. Nhắc đên Chi Lăng, mỗi người dân việt nam nói chung và người dân Lạng Sơn nói riêng như gợi nhớ về tinh thần anh hùng dân tộc, tài trí của người việt nam trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Ngày nay, Chi Lăng đã đổi khác. Từ một vùng dân ở gần biên giới với Trung Quốc, Chi Lăng đã phát triển lên thành một phường lớn của thành phố Lạng Sơn. Là nơi tập trung các cơ quan quan trọng của tỉnh Lạng Sơn. Dân số tăng nhanh, cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển của mạnh và cuộc sống của người dân nơi đây được nâng cao hơn. Nhưng cũng từ đây, vấn đề sử dụng đất đai diễn ra rất phức tạp.Tình trạng chuyển mục đích, mua bán và xây dựng trái phép diễn ra ngày càng nhiều. Uỷ Ban Nhân Dân phường đã dùng nhiều biện pháp để hạn chế tình trạng sử dụng đất trái phép.Tuy nhiên cần có một căn cứ pháp lí chuẩn mực để quản lí tốt hơn tình hình sử dụng đất đai của toàn phường. Uỷ Ban Nhân Dân phường Chi Lăng, với sự giúp đỡ của phòng địa chính thành phố Lạng Sơn, trung tâm chuyển giao công nghệ và dịch vụ tư vấn địa chính tiến hành chuẩn bị hồ sơ, tài liệu cần thiết để tiến hành lập qui hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010. Qui hoạch sử dụng đất đai phường Chi Lăng là một trong những yêu cầu cần thiết cho công tác quản lý đất đai trên địa bàn phường. Qua quá trình thực tập tại trung tâm chuyển giao công nghệ và dịch vụ tư vấn địa chính-viện điều tra qui hoạch sử dụng đất đai.Tôi nhận thấy qui hoạch sử dụng đất đai hoạch đang là một vấn đề nổi cộm hiện nay. Do vậy, tôi chọn vấn đề qui hoạch sử dụng đất đai của phường Chi Lăng làm nội dung của bản báo cáo thực tập của mình. Nội dung của bản báo cáo gồm các nội dung chính sau: -chươngI:cơ sở lí luận-khoa học của qui hoạch sử dụng đất đai ChươngII: điều kiện tự nhiên-kinh tế –xã hội của phường Chi Lăng ChươngIII: tình hình quản lývà hiện trang sử dụng đất đai của phường Chi Lăng ChươngIV: Phương án qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của phường Chi Lăng đến năm 2010 Chương V: Những giải pháp chủ yếu để thực hiện qui hoạch sử dụng đất đai phường Chi Lăng Ngoài ra, còn một số bảng biểu kèm theo, phụ lục minh hoạ Qui hoạch sử dụng đất đai của phường Chi Lăng phải đạt được một số yêu cầu và hướng tới các mục tiêu sau: +Đánh giá tình hình kinh tế-xã hội -đất đai của phường Chi Lăng +Xác định nhu cầu sử dụng đất đai của các chủ thể sử dụng đất trênđịa bàn phường Chi Lăng +Phân bổ hợp lí qũi đất đai trên địa bàn phường Chi Lăng +Phải có tính thực tiễn cao và áp dụng phù hợp cho phường Chi Lăng +Phải có tínhdự báo khoa học và chính xác Chương i Cơ sở lý luận-khoa học của qui hoạch kế hoạch sử dụng đất đai I. vai trò, ý nghĩa của đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển kinh tế-xã hội. 1. Đất đai –tư liệu sản xuất đặc biệt. Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nó có trước lao động và tham gia tích cực vào quá trình sản xuất.Từ sản xuất sản phẩm vật thể đến sản xuất sản phẩm phi vật thể. Đất đai tham gia là yếu tố đầu vào trong sản xuất của mọi ngành kinh tế quốc dân. Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất vật chất và hoạt động của con người.Đất đai là đối tượng lao động khi con người trực tiếp tác động lên nó như hoạt động xây dựng nhà cửa cải tạo đất đai, là công cụ lao động khi con người dùng đất đai để tác động lên yếu tố khác tạo ra sản phẩm mong muốn như cây trồng vật nuôi. Đặc biệt, trong sản xuất nông nghiệp đất đai vừa là công cụ lao động (khi con người thông qua đất đai tác động lên cây trồng) vừa là đối tượng lao động (khi con người trực tiếp tác động lên đất đai như cải tạo đất).Như vậy, đất đai là một tư liệu sản xuất. Tuy nhiên cần lưu ý tính chất đặc biệt của tư liệu sản xuất-đất đai. -Nguồn gốc hình thành: Các tư liệu sản xuất khác đều được hình thành thông qua quá trình lao động của con người (kể cả hòn đá trong tự nhiên cũng được con người ghè, đẽo để trở thành những vật dụng thô sơ đầu tiên của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên). Nhưng đất đai có nguồn gốc từ tự nhiên, nó được hình thành do quá trình lịch sử tự nhiên (núi lửa phun trào, phù sa lắng đọng...). Nó luôn tồn tại truớc lao động của con nguời, dù muốn con nguời cũng không thể tạo ra đuợc đất đai. Con người chỉ có thế cải tạo đất đai để phục cho lợi ích của mình. Tuy nhiên đất đai chỉ trở thành tư liệu sản xuất khi có lao động hữu ích của con người tác động vào. -Tính cố định về vị trí: đất đai là tư liệu sản xuất có tính cố định về vị trí (dù muốn con người cũng không thể di chuyển được đất đai). Đặc điểm này cho thấy con người không thể điều hoà được tính khan hiếm của đất đai từ nời này sang nơi khác bằng cách di chuyển tư liệu sản xuất đất đai. -Tính không đồng nhất: tư liệu sản xuất đất đai tại mỗi nơi lại có các tính chất khác nhau như độ phì, nguồn gốc hình thành, sự tác động của khí hậu.Ngoài ra, hoạt động của con người khi tác động vào cũng làm cho tính chất của đất đai thay đổi.Không thể có được tính nhất trong tư liệu sản xuất đất đai. -Tính không thể thay thế: Khi sản xuất càng phát triển, con người tạo ra ngày càng nhiều tư liệu sản xuất mới và có thể thay thế cho tư liệu sản xuất với những tiện ích hiệu quả sử dụng cao hơn. Tuy nhiên cho đến nay đất đai vẫn giữ nguyên vai trò của nó và không có tư liệu sản xuất nào có thể thay thế được nó.Sản xuất càng phát triển, vai trò của đất đai càng to lớn hơn và vẫn chưa có ai có thể phủ nhận vai trò của đất đai và thành công trong việc tìm được tư liệu sản xuất khác thay thế. -Tính vĩnh cửu: đất đai là tư liệu sản xuất không bị hao mòn (cả hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình) trong quá trình sản xuất. Tuy nhên sức sản xuất của đất đai có thể bị thay đổi (khi sử dụng hợp lí có thể làm tăng sức sản xuất của đất đai, nếu không sử dụng hợp lí và có sự cải tạo, bồi dưỡng hợp lí cho đất đai thì sức sản xuất của đất đai sẽ bị giảm dần). Tính năng tăng sức sản xuất của đất đai là một khả năng rất đặc biệt của đất đai mà không một tư liệu sản xuất nào có được. Qua thời gian, các tư liệu sản xuất khác đều bị hao mòn dần, giảm dần tiện ích và bị thay thế bởi một tư liệu sản xuất khác. - Đất đai là một tư liệu sản xuất hạn chế về diện tích.Sự giới hạn đó là diện tích bề mặt. Sự mở rộng đất đai chỉ giới hạn trong phạm vi rất nhỏ.Tuy nhiên không đồng nhất sức sản xuất của đất đai với diện tích của đất đai (hạn chế về diện tích là hạn chế về sức sản xuất). 2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất của xã hội. Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả cấu thành mội trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó gồm khí hậu bề mặt thổ nhưỡng (nguồn gốc hình thành đất, các thành phần khoáng chất, độ mùn...) dạng địa hình, nguồn nước và các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người cũng như kết quả lao động của con nguời trong quá khứ để lại và hiện tại sử dụng. Như vậy, đất đai là một yếu tố giới hạn: về không gian gồm khoảng không trên mảnh đất đó (các yếu tố trên bề mặt cũng như trong lòng đất và sự hạn chế về số lượng). Về diện tích bề mặt, sự hạn chế này giữ vai trò cực kì quan trọng: con người phải biết sử dụng và có hiệu quả nhất trên một diện tích giới hạn đó. Từ thửa con người mới đặt chân xuống mặt đất, đất đai đã cung cấp cho con người những vật phẩm cần thiết cho sự tồn tại ban đầu và là địa bàn nâng đỡ các hoạt động của con người. Qua thời gian, con người đã biết khai thác tư liệu sản xuất đất đai để phục vụ tốt hơn nhu cầu cuộc sống của mình. Luật đất đai năm 1993 cũng đã khẳng định: -Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá -Là tư liệu sản xuất đặc biệt -Là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống -Là địa bàn phân bố dân các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng Thực vậy, trong các điều kiện vất chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng- là điều kiện đầu tiên, là cơ sở tự nhiên của mọi quá trình sản xuất- là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao động và nơi sinh sống của xã hội loài người. Đất đai là điều kiện chung (khoảng không gian lãnh thổ cần thiết) đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Điều này có nghĩa- thiếu khoảng đất đó thì không một chủ thể kinh tế nào có thể bắt đầu công việc và hoạt động được, không có đất thì không có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của con người. Tuy nhiên, các ngành khác nhau thì đóng góp và vai trò của đất đai lại có sự khác nhau. a. Trong ngành nông nghiệp-lâm nghiệp. Đất đai là yếu tố tích cực với vai trò cực kì lớn, nó là điều kiện đầu tiên và là điều kiện quyết định cho sản xuất nông-lâm nghiệp. Một yếu tố không thích hợp trong thành phần của đất cũng tạo ra nhiều bất lợi cho quá trình sản xuất nông-lâm nghiệp và ảnh hưởng rất lớn tổng sản phẩm của ngành. Ngoài vai trò là địa bàn cho cây, con đứng vững trên đó, đất đai còn giữ vai trò cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây sinh trưởng và phát triển. Đất tham gia trong ngành với vai trò vừa là công cụ lao động (con người dùng đất đai để tác động lên cây trồng, vật nuôi) vừa là đối tượng lao động (các hoạt động như cày bừa, cuốc xới, cải tạo đất đai).Quá trình sản xuất nông-lâm nghiệp luôn liên quan và gắn bó chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất. b. Trong các ngành phi nông nghiệp. Đất đai giữ vai trò thụ động trong quá trình sản xuất với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng giữ trữ trong lòng đất (các ngành khoáng sản). Tuy nhiên ứng dụng của đất đai thì đa dạng hơn và sản phẩm được đất đai tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu đất đai, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất. Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh, các thành tựu khoa học-kỹ thuật đều được xây dựng trên một nền tảng cơ bản- sử dụng đất. Phương thức và mục tiêu sử dụng đất rất đa dạng, có thể chia làm 3 nhóm sau đây: -Lấy tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt từ đất đai để thoả mãn nhu cầu sinh tồn và phát triển, mục đích này phù hợp với sản xuất nông nghiệp và khai thác khoáng sản. -Dùng đất đai làm cơ sở sản xuất và môi trường hoạt động: đây là hoạt động chính của khu vực công nghiệp và xây dựng cơ bản. -Đất cung cấp không gian, môi trường cảnh quan mĩ học cho việc hưởng thụ tinh thần, đây là hoạt động chính của ngành du lịch, giải trí. So sánh những nhóm mục tiêu trên, ta thấy rằng việc phát triển của xã hội phù hợp với sự thay đổi của mục đích sử dụng đất.Khi xã hội chưa phát triển, người ta cần nhiều diện tích đất cho mục đích của nhóm 1, tức là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp. Khi quá trình công nghiệp hoá, người ta cần đất cho xây dựng các công xưởng, giao thông và nhà ở. Lúc này một bộ phận đất đai được sử dụng ở nhóm mục đích 1 chuyển sang mục đích 2. Khi ngành kinh tế đã phát triển, lúc này nhu cầu hưởng thụ cao con người hướng tới những nhu cầu về tinh thần và nhu cầu đất cho nhóm 3 phát triển lên .Một phần người ta chuyển đất đai từ nhóm 1 sang nhóm 3, một phần nữa người ta sử dụng song song cả hai mục đích, cả nhóm 1 và nhóm 3 (vườn du lịch sinh thái, vườn rau sạch ...). Sự sử dụng đất pha lẫn giữa 3 khu vực kinh tế cho thấy vấn đề sử dụng đất đai ngày càng phức tạp và đa dạng hơn. Qua đó cũng cho thấy tầm quan trọng cũng như vị trí của đất đai trong sản xuất của nền kinh tế quốc dân, trình độ thâm canh trong sử dụng đất. Tuy nhiên, kinh tế - xã hội càng phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho mối quan hệ giữa con người và đất đai ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (có ý thức hoặc không có ý thức) dẫn đến huỷ hoại môi trường đất. Một số công năng (mục đích) của đất bị yếu đi, vấn đề sử dụng+bảo vệ đất ngày càng quan trọng và nó mang tính toàn cầu. Với sự phát triển không ngừng của sản xuất thì đất đai cần được sử dụng theo hướng đa dạng hơn và cần có biện pháp bảo vệ tốt đất đai. 4. Những nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng đất đai. Sử dụng đất đai là hệ thống các biện phát nhằm điều hoà mối quan hệ giữa con người và đất đai trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường. Sử dụng đất đai là một biện pháp mang tính kỹ thuật, kinh tế và xã hội nhằm đạt được hiệu quả cao nhất cho các lợi ích: chủ sở hữu, chủ sử dụng và cho toàn bộ xã hội (môi trường). a. Điều kiện tự nhiên. -Đất đai là là sản phẩm của tự nhiên, gắn liền với các điều kiện của tự nhiên trong quá trình tham gia vào các hoạt động của xã hội. Sự thay đổi của các yếu tố tự nhiên cũng kéo theo sự thay đổi của phương thức sử dụng, mục đích sử dụng đất. +Điều kiện khí hậu: khí hậu gồm các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và các điều kiện sinh hoạt của con người. Đây là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất đến việc sử dụng đất đai cả về không gian và thời gian. +Địa hình: sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc dẫn tới sự khác nhau về các yếu tố tạo nên chất đất và khí hậu.Từ đó ảnh hưởng tới sản xuất và phân bố các ngành sản xuất. Đối với các ngành sản xuất trực tiếp thu sản phẩm từ đất, tiêu biểu là sản xuất nông nghiệp thì địa hình có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố cây trồng, năng suất và chất lượng của sản phẩm. Đối với các ngành khác, địa hình ảnh hưởng tới việc bố trí công trình, tạo mặt bằng xây dựng. +Thổ nhưỡng: sự khác nhau về nguồn gốc hình thành, đá mẹ các nhân tố vi lượng như khoáng chất tạo nên sự khác biệt ở mỗi loại đất do đó khác nhau về việc bố trí các loại cây trồng (đối với ngành nông nghiệp), các công trình xây dựng (như nhà cửa, đường sá) yếu tố thổ nhưỡng ảnh hưởng tới giá trị của công trình và tuổi thọ của nó cũng như những khó khăn trong giai đoạn thi công.Trong sản xuất nông nghiệp, thổ nhưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Đặc thù của nhân tố này là mang tính khu vực.Vị trí địa lí cùng với sự khác biệt về ánh sáng, nhiệt độ... sẽ quyết định đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất đai. Vì vậy trong thực tiễn sử dụng đất đai cần tuân thủ các qui luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt hiệu ích cao nhất về xã hội, môi trường và kinh tế. b. Kinh tế xã hội Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý. Nhân tố kinh tế-xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai.Thực vậy, phương hướng sử dụng đất đai quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất. Còn điều kiện kinh tế sẽ quyết định trình độ khai thác sử dụng đất, mức độ đầu tư vào đất. Khi kinh tế còn kém phát triển, sản xuất hàng hoá còn ở mức độ giản đơn thì người ta khai thác, sử dụng đất đai chủ yếu là khai thác các chất dinh dưỡng, độ phì tự nhiên. Xã hội càng phát triển, nhu cầu về các sản phẩm ngày càng đa dạng hơn, nhiều hơn con người đã biết cải tạo, nâng sức sản xuất của đất đai lên, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cho nhu cầu của xã hội. Như vậy, với sự phát triển của kinh tế-xã hội thì trình độ sử dụng đất đai ngày càng tăng lên, sản phẩm tạo ra ngày càng lớn và đa dạng hơn. Ngoài nhu cầu về vật chất còn nhu cầu về tinh thần. Trong các yếu tố của xã hội như tập quán sản xuất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất... thì yếu tố quan trọng tác động tới sử dụng đất đai là quan điểm về sở hữu và sử dụng đất đai. Nó trực tiếp tác động lên người sử dụng đất đai về mức độ đầu tư, khả năng khai thác.Do đó tác động lên hiệu quả sử dụng đất đai. ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến việc sử dụng đất được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất. Lợi ích trong sử dụng đất liên quan tới lợi ích kinh tế của người sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai. Trong điều kiện của Việt Nam, đất được dùng cho xây dựng cơ sở hạ tầng đều dựa trên nguyên tắc hạch toán kinh tế, thông qua việc tính toán hiệu quả kinh doanh sản xuất. Tuy nhiên, cần có chính sách ưu đãi tạo điệu kiện cải thiện và hạn chế việc bóc lột đất đai, chỉ quan tâm tới lợi nhuận tối đa mà quên mất lợi ích môi trường trong sử dụng đất đai. Từ các vấn đề trên cho thấy, các nhân tố điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội-kinh tế tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dung đất đai. Tuy nhiên mỗi nhân tố giữ vị trí và có tác động khác nhau.Trong đó, điều kiện tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc.Nhất là đối với sản xuất nông nghiệp.Điều kiện tự nhiên sẽ kiềm chế tác dụng của con người trong việc sử dụng đất đai.Điều kiện xã hội tạo ra khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế và tự nhiên tác động tới việc sử dụng đất. Do vậy cần dựa vào qui luật tự nhiên, qui luật kinh tế xã hội để nghiên cứu, xử lí mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên, xã hội và kinh tế trong lĩnh vực sử dụng đất đai nhằm đạt được hiệu qủa kinh tế cao nhất và phát triển bền vững. c. Nhân tố không gian. Đất đai có sự giới hạn về diện tích, cũng có nghĩa là giới hạn về khoảng không gian ngay trên bề mặt của mảnh đất đó. Không gian mà mặt đất đã cung cấp có đặc tính vĩnh cửu, cố định về vị trí khi sử dụng và số lượng không vượt quá phạm vi qui mô diện tích. Khoảng không gian được tính tới có tính cố định về vị trí, khả năng khai thác sử dụng có thể đạt được nhưng không dễ dàng cho việc khai thác và đưa vào sử dụng nó.Tính kinh tế, khả năng đầu tư là yếu tố đầu tiên được xét khi sử dụng khoảng không gian.Tuy nhiên khoảng không gian ngày càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong việc sử dụng đất đai. Nhất là tại các đô thị, khi mà đất chật người đông, khoảng không gian bị chiếm ngày càng nhiều hơn II. qui hoạch sử dụng đất đai - cơ sở khoa học và căn cứ pháp lí để nhà nước thống nhất quản lí đất đai. 1. Khái niệm và đặc điểm của qui hoạch sử dụng đất đai. a. Khái niệm. Qui hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp của nhà nước (thể hiện đồng thời ba tính chất kinh tế, kỹ thuật và pháp chế) về tổ chức sử dụng đất đai và quản lí đất đai đầy đủ (mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo mục đích nhất định) hợp lí (đặc điểm tự nhiên, vị trí, diện tích phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng) khoa học (áp dụng thành tựu khoa học và kĩ thuật tiên tiến)và có hiệu quả nhất (đáp ứng đồng bộ cả 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường) thông qua việc phân bổ qũi đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp tổ chức sử dụng cụ thể) nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường. Như vậy, về thực chất qui hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất đai như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuẩt của xã hội kết hợp với bảo vệ đất và môi trường . Từ những phân tích trên cho thấy qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài. Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, qui hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập qui hoạch, kế hoạch chi tiết của mình, xác lập sự ổn định về mặt phát lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, làm cơ sở để tiến hành giao đất và đầu tư phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá- xã hội. Mặt khác, qui hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của nhà nước nhằm tố chức lại việc sử dụng đất đai, hạn chế việc chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút ngiêm trọng quĩ đất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngăn chặn các tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm, huỷ hoại đất đai, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế -xã hội và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường. b. Đặc điểm của qui hoạch sử dụng đất đai . -Tính dài hạn: căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế-xã hội quan trọng (sự thay đổi về dân số do di cư, tiến bộ kỹ thuật, những đột biến về đầu tư).Từ đó xác định qui hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo ra căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai hàng năm. Qui hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế-xã hội. Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài (cùng với quá trình phát triển dài hạn kinh tế, xã hội) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến. Thời hạn của qui hoạch sử dụng đất đai thường được lập cho 10 năm nhưng trong quá trình định hướng và dự báo thường từ 15-20 năm hoặc lâu dài hơn. -Tính khả biến: Dưới tác động của các nhân tố khó đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, qui hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế - xã hội trong một thời kỳ nhất định. Khi xã hội phát triển thì kéo theo hàng loạt những yếu tố khác cũng thay đổi theo. Do vậy những dự kiến của qui hoạch sử dụng đất đai không còn phù hợp nữa. Việc chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện qui hoạch sử dụng đất đai và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết. Điều này thể hiện tính khả biến của qui hoạch sử dụng đất đai. Nó là qui hoạch động, nó không khô cứng, bất biến mà phát triển theo con đường xoắn ốc (qui hoạch -thực hiện-điều chỉnh-thực hiện ...) với chất lượng, mức độ phù hợp và hoàn thiện ngày càng cao. -Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn, qui hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến được xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể, không tính toán chi tiết mọi vấn đề).Vì vậy qui hoạch sử dụng đất đai là một dạng qui hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của qui hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô,tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất như sau: +Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất đai trong vùng. +Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành +Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bổ đất đai trong vùng +Phân định ranh giới và hình thức quản lý việc sử dụng đất đai trong vùng +Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất đai Do thời gian dự báo dài, lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế-xã hội khó xác định nên chỉ tiêu qui hoạch sử dụng đất đai càng khái lược hoá thì qui hoạch càng ổn định. Tuy nhiên nếu quá khái lược thì gây ra nhiều khó khăn cho vấn đề quản lý. 2. Những căn cứ pháp lý của qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai. Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp đã và đang gây áp lực ngày càng lớn đối với đất đai. Kinh nghiệm thực tiễn cùng với quá trình đổi mới tư duy và nhận thức đã trả lại cho đất đai đúng giá trị đích thực của nó (là tài nguyên quốc gia vô cùng qúi giá, là tư liệu sản xuất không có gì thay thế được). Việc sử dụng hợp lí đất đai liên quan chặt chẽ tới mọi hoạt động của từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể, quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống còn của từng người dân cũng như vận mệnh của mỗi quốc gia. Chính vì vậy mà Đảng và nhà nước ta luôn coi đây là vấn đề rất bức xúc cần được quan tâm hàng đầu. a. Sự cần thiết về mặt pháp lí phải lập qui hoạch sử dụng đất đai. -Tại chươngII, điều 18, hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã khẳng định”đất đai thuộc sở hữu toàn dân”nhà nước thống nhất quản lí đất đai theo qui hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. -Điều 1 luật đất đai năm 1993 cũng nêu rõ”đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lí’’ -Điều13 luật đất đai năm 1993 xác định”qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai” là một trong bảy nội dung quản lý nhà nước về đất đai. -Điều19 của luật đất đai khẳng định “căn cứ để quyết định giao đất là qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duỵêt” -Nghị định 68/CP ban hành ngày 1/10/2001 và thông tư 1842/2001/tt-tcđc cũng khẳng định: Qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt là cơ sở pháp lí để quản lí đất đai và là căn cứ để bố t

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc100837.doc
Tài liệu liên quan