Đào tạo giáo viên theo định hướng phát triển năng lực thực hành tại trường Đại học Thủ Dầu Một

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các trường mầm non, trường phổ thông

đáp ứng nhu cầu xã hội là mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo của cả nước nói chung

và tỉnh Bình Dương nói riêng. Tuy nhiên, trước những yêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo

dục và đào tạo, đội ngũ giáo viên phổ thông vẫn còn không ít những hạn chế. Chất lượng

chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên khi ra trường chưa đáp ứng yêu cầu mong

đợi của xã hội. Các trường sư phạm ít chú ý đến phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ

năng thực hành của sinh viên. Trường Đại học Thủ Dầu Một đã và đang đào tạo giáo

viên theo định hướng phát triển năng lực thực hành.

pdf10 trang | Chia sẻ: Thục Anh | Ngày: 13/05/2022 | Lượt xem: 17 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Đào tạo giáo viên theo định hướng phát triển năng lực thực hành tại trường Đại học Thủ Dầu Một, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
uyên môn. Giảng viên sư phạm cần trao đổi với GV phổ thông về phương pháp dạy học và nội dung các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn (về chương trình, đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, dạy học phân hoá, dạy học tích hợp, đổi mới kiểm tra đánh giá, những nội dung khó...). 136 TRNG I H C TH  H NI Sau khi rút kinh nghiệm trong tiết dạy dự giờ ở các trường tiểu học, trường mầm non, giảng viên sư phạm thực hiện giảng mẫu nhằm chuyển giao mô hình cho trường phổ thông. GV phổ thông và SV sư phạm cùng tham gia dự giờ giảng mẫu và phân tích bài học, rút kinh nghiệm sau giờ dạy. Tóm lại, khoa Sư phạm chủ trương yêu cầu giảng viên chuyên ngành phương pháp giảng dạy phải dành thời gian trong năm học (ít nhất 8 giờ/năm) để thăm lớp, dự giờ, giảng mẫu và tham gia sinh hoạt tổ chuyên môn với các trường phổ thông nhằm tăng cường giao lưu, hợp tác, trao đổi chuyên môn giữa cơ sở đào tạo với cơ sở sử dụng GV. 2.3.4. Tăng cường thực hành môn học cho sinh viên sư phạm Thực hành trong các môn khoa học cơ bản nhằm ôn tập, củng cố, khắc sâu hơn kiến thức cơ bản trong các học phần lý thuyết chuyên ngành, từ đó rèn luyện thêm một số kỹ năng cần thiết cho SV như kỹ năng trình bày, diễn đạt, lập luận, tranh luận, giúp sinh viên tự tin, tạo tính chủ động trong học tập, trong giao tiếp. Giảng viên khoa Sư phạm, trường Đại học Thủ Dầu Một luôn tạo điều kiện và ưu tiên cho SV được tham gia thực hành nhiều hơn. Tất cả các môn học trong khoa học cơ bản cần tổ chức nhiều hoạt động seminar để hỗ trợ thiết thực cho hoạt động nghiệp vụ sư phạm. Thực hành trong khoa học cơ bản do giảng viên của các chuyên ngành của khoa học cơ bản đảm nhận. Thực hành trong khoa học sư phạm là thực hành chính mang tính định hướng nghề nghiệp cho SV. Vì vậy, cả giảng viên và SV cần dành nhiều thời gian, công sức cho nội dung thực hành nghề nghiệp. Thực hành trong khoa học sư phạm rất đa dạng, phong phú từ việc hướng dẫn, rèn luyện cách đi đứng, nói năng, cách trình bày, diễn đạt, cách viết bảng, cách soạn giảng, cách thức ứng xử, giải quyết các tình huống sư phạm...Tất cả phải được hướng dẫn, rèn luyện đến nơi đến chốn. Trong chương trình thực hành này, vai trò của giảng viên phương pháp, giảng viên tâm lý, giáo dục là hết sức quan trọng. Thực hành trong chương trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một hình thức thực hành có nhiều ưu thế bởi thời gian dài, không gian rộng, phạm vi rèn luyện đa dạng, phong phú. Đây là môi trường thuận lợi để SV thực hành. Giảng viên cần căn cứ vào chuẩn đầu ra (đại học, cao đẳng) và thực tế trình độ, năng lực nghiệp vụ của SV để đưa ra những nội dung, phương pháp thực hành thiết thực, có hiệu quả. Bản thân mỗi SV cũng phải tự xem xét "vốn liếng" nghiệp vụ sư phạm của mình đến đâu để có chủ động trong việc tự rèn luyện. Chương trình thực hành này đòi hỏi phát huy cao độ tính chủ động, sáng tạo, tích cực, tự giác của SV. Thực hành trong chương trình tập giảng là khâu thực hành quan trọng đối với SV sư phạm, là hình thức thực hành tổng hợp, mang tính thể nghiệm, buộc SV phải vận dụng mọi TP CH KHOA H C − S 5/2016 137 kiến thức lý thuyết, thực hành và kỹ năng đã được trang bị để lên lớp giảng dạy (nhóm SV tập giảng). Mỗi SV đóng vai là một GV mầm non, GV phổ thông thực thụ lên lớp giảng bài theo một quy trình chặt chẽ, có hệ thống. Thực hành trong chương trình tập giảng phải được tiến hành nghiêm túc dưới sự giám sát của giảng viên bộ môn phương pháp để đánh giá, rút kinh nghiệm. 2.3.5. Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục cho sinh viên sư phạm Nghiên cứu khoa học (NCKH) giáo dục không chỉ giúp cho SV sư phạm khám phá những tri thức, giá trị khoa học mới, phục vụ cho hoạt động học tập và chuyên môn nghiệp vụ của bản thân mà còn rèn luyện tư duy, kỹ năng cũng như phẩm chất, thái độ nghiêm túc của người nghiên cứu. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, hoạt động NCKH giáo dục trong trường/khoa sư phạm vẫn còn tồn tại không ít khó khăn: SV tham gia NCKH còn ít, chất lượng các đề tài NCKH chưa cao, kỹ năng NCKH của SV còn hạn chế, hứng thú và say mê NCKH vẫn mờ nhạt... Để SV sư phạm say mê và hứng thú với NCKH giáo dục, chủ động và tích cực hơn trong hoạt động NCKH, có kỹ năng NCKH, sản phẩm khoa học giáo dục có giá trị thực tiễn cao..., thì vai trò của khoa Sư phạm trong việc tổ chức hoạt động NCKH giáo dục cho SV là vô cùng quan trọng, thể hiện ở các giai đoạn, các khâu của quá trình nghiên cứu. Giảng viên cần tư vấn và giải thích để SV hiểu được vai trò, ý nghĩa của NCKH giáo dục đối với SV sư phạm. Nghệ thuật của giảng viên là hướng cho SV vào mục đích nghiên cứu rõ ràng; có khả năng phát hiện những mâu thuẫn trong nhận thức và thực tiễn giáo dục để làm cơ sở cho việc xác định vấn đề nghiên cứu. Hơn nữa, giảng viên cần giúp cho SV nhận thức được các vấn đề nghiên cứu gắn với hoạt động sư phạm (bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục) trong các nhà trường hiện nay. Để thực hiện được vai trò đó, giảng viên cần sử dụng kết hợp các cách thức giới thiệu những vấn đề trong thực tiễn giáo dục. 3. KẾT LUẬN Chất lượng đội ngũ GV các trường phổ thông phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đào tạo của các trường sư phạm và là yếu tố quyết định trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội. Để hoàn thành sứ mệnh đào tạo đội ngũ GV mầm non, GV phổ thông có chất lượng đáp ứng nhu cầu xã hội, trường Đại học Thủ Dầu Một đã thường xuyên đổi mới về nội dung, chương trình, hình thức và phương pháp đào tạo, trong đó có hoạt động rèn luyện nâng cao năng lực thực hành cho SV sư phạm. Đào tạo giáo viên theo định hướng phát triển năng lực thực hành là một trong những giải pháp quan trọng trước mắt cũng như lâu dài góp phần đổi mới căn bản, toàn diện ngành GD&ĐT của tỉnh Bình Dương./. 138 TRNG I H C TH  H NI TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Báo cáo Tổng kết thực tập sư phạm, Trường Đại học Thủ Dầu Một, năm học 2013 - 2014, 2014 - 2015. 2. Vũ Dũng (2000), Từ điển Tâm lý học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 3. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển Giáo dục học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 4. Nguyễn Thuý Hồng, Hoàng Đức Minh (2015), "Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống các trường sư phạm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục", Kỷ yếu Hội thảo khoa học, 02/2015, Đà Nẵng. 5. Nguyễn Danh Nam (2014), "Xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ sở sử dụng và cơ sở đào tạo giáo viên", Kỷ yếu Hội thảo "Nâng cao năng lực đào tạo, bồi dưỡng giáo viên". 6. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI. 7. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương (2014), Báo cáo Tổng kết năm học 2013 - 2014 và Phương hướng nhiệm vụ năm học 2014 - 2015, tháng 8/2014. TRAINING TEACHERS TOWARDS THE APPLICATION CAPACITY DEVELOPMENT AT THU DAU MOT UNIVERSITY Abstract: Improving the quality of teachers in kindergartens and schools to meet society’s needs is the target of education and training innovation of our country in general and Binh Duong Province in specific. In comparison with the renovation requirements of education and training, teachers’ capacity still exists weakness. The professional quality of graduated students did not meet the requirements of social expectations. Furthermore, universities of education paid little attention to improve student’s critical and creative thinking as well as their application capacity. Thu Dau Mot University has been training pedagogical students aiming to enhance their application capacity. Keywords: training model, performance measures, programs, application capacity, training quality.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfdao_tao_giao_vien_theo_dinh_huong_phat_trien_nang_luc_thuc_h.pdf