Klacid (kỳ 2)

Clarithromycin được hấp thu nhanh và tốt qua đường tiêu hóa sau khi uống.

Chất chuyển hóa có hoạt tính sinh học 14-hydroxyclarithromycin được hình thành

từ chuyển hóa đầu tiên. Klacid có thể được cho mà không cần quan tâm đến các

bữa ăn vì thức ăn không ảnh hưởng đến độ khả dụng sinh học của Klacid. Thức ăn

làm hơi chậm hấp thu clarithromycin và hình thành chất chuyển hóa 14-hydroxy.

Dược động học của clarithromycin không đều ; tuy nhiên, trạng thái ổn

định đạt được trong vòng 2ngày. Với liều 250 mg hai lần trong ngày, 20% thuốc

bài tiết qua nước tiểu ở dạng không đổi. Với liều 500 mg hai lần trong ngày, liều

lượng bài tiết qua nước tiểu mỗi ngày lớn hơn (khoảng 36%). 14-hydroxy

clarithromycin là chất chuyển hóa chủ yếu qua nướctiểu và chiếm 10-15% liều.

Hầu hết liều còn lại được thải trừ trong phân. Khi clarithromycin được cho 3 lần

mỗi ngày, nồng độ clarithromycin trong huyết tương tăng hơn đối với liều 500 mg

hai lần mỗi ngày.

Klacid cung cấp nồng độ trong mô nhiều lần cao hơn nồng độ thuốc lưu

hành trong máu. Nồng độ cao được ghi nhận trong mô phổi và hạch hạnh nhân. Ở

liều điều trị, 80% clarithromycin kết hợp với protein.

Klacid cũng thâm nhập qua lớp nhầy của dạ dày. Nồng độ clarithromycin

trong lớp nhầy dạ dày và trong mô dạ dày khi sử dụng clarithromycin đồng thời

với omeprazole cao hơn khi sử dụng clarithromycin đơn thuần.

pdf5 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 1450 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Klacid (kỳ 2), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
KLACID (Kỳ 2) DƯỢC ĐỘNG HỌC Clarithromycin được hấp thu nhanh và tốt qua đường tiêu hóa sau khi uống. Chất chuyển hóa có hoạt tính sinh học 14-hydroxyclarithromycin được hình thành từ chuyển hóa đầu tiên. Klacid có thể được cho mà không cần quan tâm đến các bữa ăn vì thức ăn không ảnh hưởng đến độ khả dụng sinh học của Klacid. Thức ăn làm hơi chậm hấp thu clarithromycin và hình thành chất chuyển hóa 14-hydroxy. Dược động học của clarithromycin không đều ; tuy nhiên, trạng thái ổn định đạt được trong vòng 2 ngày. Với liều 250 mg hai lần trong ngày, 20% thuốc bài tiết qua nước tiểu ở dạng không đổi. Với liều 500 mg hai lần trong ngày, liều lượng bài tiết qua nước tiểu mỗi ngày lớn hơn (khoảng 36%). 14-hydroxy clarithromycin là chất chuyển hóa chủ yếu qua nước tiểu và chiếm 10-15% liều. Hầu hết liều còn lại được thải trừ trong phân. Khi clarithromycin được cho 3 lần mỗi ngày, nồng độ clarithromycin trong huyết tương tăng hơn đối với liều 500 mg hai lần mỗi ngày. Klacid cung cấp nồng độ trong mô nhiều lần cao hơn nồng độ thuốc lưu hành trong máu. Nồng độ cao được ghi nhận trong mô phổi và hạch hạnh nhân. Ở liều điều trị, 80% clarithromycin kết hợp với protein. Klacid cũng thâm nhập qua lớp nhầy của dạ dày. Nồng độ clarithromycin trong lớp nhầy dạ dày và trong mô dạ dày khi sử dụng clarithromycin đồng thời với omeprazole cao hơn khi sử dụng clarithromycin đơn thuần. CHỈ ĐỊNH Klacid được chỉ định trong điều trị nhiễm trùng do một hoặc nhiều vi khuẩn nhạy cảm. Những chỉ định gồm : Nhiễm trùng đường hô hấp dưới ví dụ viêm phế quản cấp tính và mãn tính, và viêm phổi. Nhiễm trùng đường hô hấp trên ví dụ viêm xoang và viêm họng. Klacid thích hợp để điều trị khởi đầu những nhiễm trùng hô hấp mắc phải trong cộng đồng và đã được chứng minh là có hoạt tính trên thực nghiệm chống lại những tác nhân sinh bệnh thông thường và những tác nhân gây viêm phổi không điển hình như đã được liệt kê trong phân loại vi sinh học. Với sự hiện diện của chất ức chế axit do omeprazole, Klacid cũng được chỉ định trong điều trị tiệt trừ H. pylori ở những bệnh nhân loét tá tràng. CHỐNG CHỈ ĐỊNH Clarithromycin chống chỉ định trên những bệnh nhân có tiền sử tăng mẫn cảm với những kháng sinh thuộc nhóm macrolide. Không nên cho clarithromycin kèm với những dẫn chất của ergot. Chống chỉ định sử dụng clarithromycin với bất kỳ thuốc nào sau đây : cisaprid, pimozide và terfenadine. Nồng độ cisapid, pimozide và terfenadine tăng đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng đồng thời cả hai loại những thuốc này và clarithromycin. Điều này có thể gây kéo dài thời gian QT và những rối loạn nhịp kể cả nhịp nhanh thất, rung thất và xoắn đỉnh. Những tác dụng tương tự được ghi nhận khi cho đồng thời astemizole và những macrolide khác. THẬN TRỌNG LÚC DÙNG Clarithromycin được bài tiết chủ yếu qua gan và thận. Nên thận trọng khi sử dụng kháng sinh này trên những bệnh nhân suy chức năng gan hoặc thận. Việc sử dụng clarithromycin kéo dài và lập lại có thể gây nên sự phát triển nấm hoặc vi khuẩn không còn nhạy với thuốc. Nếu xảy ra bội nhiễm, nên ngưng clarithromycin và tiến hành trị liệu thích hợp. Trên một số ít người, vi khuẩn H. pylori có thể trở nên đề kháng clarithromycin. Giống như những kháng sinh macrolide khác, việc sử dụng clarithromycin ở những bệnh nhân uống đồng thời với những thuốc được chuyển hóa bởi hệ thống sắc tố tế bào P450 có thể làm tăng nồng độ những thuốc đó trong huyết thanh. LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ Tính an toàn của clarithromycin trong lúc mang thai và nuôi con bằng sữa mẹ chưa được xác minh. Vì vậy không nên sử dụng Klacid trong lúc mang thai hoặc cho con bú trừ khi lợi ích nhiều hơn nguy cơ. Một vài công trình nghiên cứu trên súc vật gợi ý tác dụng độc tính trên phôi nhưng chỉ ở những liều có độc tính rõ ràng đối với người mẹ. Không tìm thấy clarithromycin trong sữa của những súc vật đang cho con bú và trong sữa mẹ.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfklacid_doc_ky_2_6561.pdf
Tài liệu liên quan