Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa

tăng tr-ởng kinh tế và công bằng xã hội đang

là vấn đề đ-ợc l-u tâm hàng đầu ở hầu hết

các quốc gia trong thời đại ngày nay. Điều đó

lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với

Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế

thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa. Tuy

nhiên, việc đạt đ-ợc mục tiêu kép này không

dễ dàng. Trên thực tế đã có nhiều bằng chứng

về sự “đối lập” giữa tăng tr-ởng kinh tế và

công bằng xã hội. Các chính sách dựa trên

mục tiêu công bằng thái quá có thể dẫn đến

triệt tiêu các động lực tăng tr-ởng kinh tế;

ng-ợc lại, những chính sách chỉ nhằm vào các

tăng tr-ởng kinh tế có thể làm cho bất bình

đẳng xã hội tăng lên. Vậy, phải chăng giữa

tăng tr-ởng kinh tế và công bằng xã hội là

mâu thuẫn không thể giải quyết và không thể

dung hoà? Nói cách khác, xét trên cả ph-ơng

diện lý luận và thực tiễn, liệu có thể tạo dựng

mối quan hệ hợp lý giữa tăng tr-ởng và công

bằng? D-ới đây chúng tôi sẽ góp phần lý giải

vấn đề đó.

pdf7 trang | Chia sẻ: luyenbuizn | Lượt xem: 1029 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Mối quan hệ giữa tăng tr−ởng kinh tế vμ công bằng xã hội CN. Nguyễn trung hiếu Bộ môn Kinh tế chính trị Khoa Mác – Lênin, t− t−ởng Hồ Chí Minh Tr−ờng Đại học GTVT Tóm tắt: Mối quan hệ giữa tăng tr−ởng kinh tế vμ công bằng xã hội từ lâu luôn lμ một trong những đề tμi giμnh đ−ợc sự quan tâm của nhiều nhμ nghiên cứu, từ đó hình thμnh nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề nμy. Báo cáo nμy, chúng tôi trình bμy một số quan điểm về mối quan hệ giữa tăng tr−ởng kinh tế vμ công bằng xã hội vμ phân tích sự t−ơng tác giữa tăng tr−ởng kinh tế vμ công bằng xã hội. Summary: For a long time, the relationship between economic growth and social equity is always one of themes, which attract many researchers' attention and accordingly, lead to different opinions of the theme. In this article, we present some opinions of the relationship between economic growth and social equity as well as interaction between them. KT-ML i. đặt vấn đề Giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa tăng tr−ởng kinh tế và công bằng xã hội đang là vấn đề đ−ợc l−u tâm hàng đầu ở hầu hết các quốc gia trong thời đại ngày nay. Điều đó lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế thị tr−ờng định h−ớng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, việc đạt đ−ợc mục tiêu kép này không dễ dàng. Trên thực tế đã có nhiều bằng chứng về sự “đối lập” giữa tăng tr−ởng kinh tế và công bằng xã hội. Các chính sách dựa trên mục tiêu công bằng thái quá có thể dẫn đến triệt tiêu các động lực tăng tr−ởng kinh tế; ng−ợc lại, những chính sách chỉ nhằm vào các tăng tr−ởng kinh tế có thể làm cho bất bình đẳng xã hội tăng lên. Vậy, phải chăng giữa tăng tr−ởng kinh tế và công bằng xã hội là mâu thuẫn không thể giải quyết và không thể dung hoà? Nói cách khác, xét trên cả ph−ơng diện lý luận và thực tiễn, liệu có thể tạo dựng mối quan hệ hợp lý giữa tăng tr−ởng và công bằng? D−ới đây chúng tôi sẽ góp phần lý giải vấn đề đó. ii. nội dung 1. Các quan điểm lý thuyết về việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng tr−ởng kinh tế và công bằng x∙ hội Quá trình hình thành và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị tr−ờng, đặc biệt là ở các n−ớc đang phát triển, dẫn đến sự mâu thuẫn giữa việc thúc đẩy tăng tr−ởng kinh tế với giải quyết công bằng xã hội. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng tr−ởng và thực hiện công bằng. Nhìn chung, có thể tổng hợp thành ba loại quan điểm chính d−ới đây. a. Quan điểm “Tập trung thúc đẩy tăng tr−ởng kinh tế bằng mọi giá, coi các vấn đề xã hội nảy sinh là cái giá phải trả của nền kinh tế thị tr−ờng” và hệ quả t−ơng ứng của quan điểm này. Những ng−ời theo quan điểm này cho rằng tăng tr−ởng kinh tế tất yếu dẫn đến bất bình đẳng và chính sự bất bình đẳng là điều kiện thúc đẩy tăng tr−ởng. Lập luận của họ là: Chỉ tầng lớp có thu nhập cao mới có khả năng tích luỹ và đó là nguồn bảo đảm đầu t− chủ yếu cho tăng tr−ởng. Bất kỳ sự phân phối nào làm giảm mức độ tập trung thu nhập cho tầng lớp này đều ảnh h−ởng xấu đến tăng tr−ởng kinh tế. Lập luận đó dựa vào thực tiễn và lịch sử của chủ nghĩa t− bản trong giai đoạn tích luỹ t− bản nguyên thuỷ. Ng−ời đầu tiên đặt nền móng cho lập luận này là D. Ricardo. Ông cho rằng tăng tr−ởng kinh tế có đ−ợc nhờ mức tiết kiệm cao của tầng lớp t− sản, do đó ông chống lại việc phân phối lại thu nhập gây bất lợi cho tầng lớp này. Những lập luận đầy đủ nhất về tăng tr−ởng đối lập với công bằng đ−ợc trình bày trong lý thuyết nhị nguyên của W.Arthur Lewis, nhà kinh tế học Jamica. Trong lý thuyết về mô hình kinh tế nhị nguyên hay còn gọi là mô hình kinh tế hai khu vực. Mô hình của W. A. Lewis cũng đ−ợc các nhà kinh tế học John Fei và Guatav Raris áp dụng vào phân tích quá trình tăng tr−ởng ở các n−ớc đang phát triển. T− t−ởng cơ bản của mô hình này là chuyển số lao động d− thừa trong ngành nông nghiệp sang các ngành công nghiệp. Quá trình này sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Theo W. A. Lewis, bất bình đẳng không những là kết quả tất yếu của tăng tr−ởng mà còn là nguyên nhân thúc đẩy tăng tr−ởng. Sự chênh lệch trong thu nhập của lao động trong ngành công nghiệp và ngành nông nghiệp là tiền đề cho mô hình của ông. Tuy nhiên W. A. Lewis không cho rằng bất bình đẳng thu nhập là vĩnh viễn, mà chỉ trong giai đoạn đầu của sự phát triển. Sự tăng lên nhất thời của bất bình đẳng là cái giá phải trả cho thành công và tất cả mọi ng−ời nếu biết chờ đợi sự phát triển đi theo đúng tiến trình của nó, họ sẽ đ−ợc h−ởng thành quả. Khi lao động d− thừa đ−ợc chuyển hết sang khu vực hiện đại, lao động sẽ trở thành nguồn lực khan hiếm, tạo thành sức ép tăng l−ơng. Tiền l−ơng tăng sẽ giảm bất bình đẳng và nghèo khổ. Mô hình của W. A. Lewis đã đ−ợc thừa nhận và áp dụng khá rộng rãi ở các n−ớc đang phát triển trong nhiều thập niên thuộc nửa cuối thế kỷ XX. Tuy vậy, nó cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết và bị phê phán từ nhiều phía. Thứ nhất, W. A. Lewis đã giả định chỉ trong nông nghiệp mới d− thừa lao động, còn trong công nghiệp đạt đ−ợc mức hữu hiệp toàn thể. Thực tế ở các n−ớc đang phát triển cho thấy hiện t−ợng thất nghiệp ở khu vực công nghiệp cũng ngày càng tăng. Thứ hai, mô hình này chỉ phù hợp khi nhà t− bản sử dụng công nghệ nhiều lao động, nh−ng thực tế th−ờng diễn ra ng−ợc lại. Mặt khác, lao động d− thừa trong nông nghiệp là lao động không có chuyên môn, còn lao động đ−ợc sử dụng trong các ngành công nghiệp phải có kỹ năng nhất định. Thứ ba, ở các n−ớc châu á gió mùa, nên nông nghiệp lúa n−ớc vẫn thiếu lao động trong các đỉnh cao của thời vụ, chỉ d− thừa lao động trong thời kỳ nông nhàn. KT-ML Ngoài ra, một mô hình khác cũng chịu ảnh h−ởng của quan điểm trên- đó là mô hình tăng tr−ởng dạng chữ ∩ (chữ U ng−ợc) của S.Kuznets. Mô hình đ−ợc xây dựng trên sự khảo nghiệm thực tế của một số n−ớc đ−ợc tiến hành vào năm 1995. Theo mô hình S.Kuznets, khi thu nhập quốc dân bình quân đầu ng−ời thấp thì mức độ bất bình đẳng cũng thấp. Bất bình đẳng sẽ tăng lên liên tục theo đà tăng tr−ởng kinh tế và chỉ giảm đi khi xã hội đã đạt đến một trình độ phát triển kinh tế nhất định. Lập luận của S.Kuznets tuy vậy không thực sự đúng đối với một số n−ớc kém phát triển. Không phải tất cả các nền kinh tế lạc hậu, có mức thu nhập bình quân đầu ng−ời thấp lại có mức độ bất bình đẳng thấp. Mặt khác, bên cạnh những nh−ợc điểm của các mô hình nói trên, việc htực thi quan điểm thúc đẩy tăng tr−ởng bằng mọi giá còn vấp phải một trở ngại lớn: các vấn đề xã hội nảy sinh không đ−ợc quan tâm giải quyết kịp thời đã dẫn tới bất ổn định xã hội và kìm hãm sự tăng tr−ởng. b. Quan điểm “Ưu tiên công bằng xã hội hơn tăng tr−ởng kinh tế” Một xã hội công bằng luôn là −ớc muốn và mục tiêu của loài ng−ời. Trong khi đó, ở một số n−ớc công nghiệp phát triển, sự tăng tr−ởng nhanh chóng về kinh tế đã diễn ra song hành - nói đúng hơn là, kéo theo sự gia tăng của bất công và tệ nạn xã hội. Từ thực tế đó đã hình thành quan điểm cho rằng, cần −u tiên công bằng xã hội hơn là tăng tr−ởng và càng đạt đ−ợc công bằng nhanh chóng thì càng chứng tỏ xã hội phát triển nhanh. Quan điểm này đ−ợc biểu hiện rõ thông qua chính sách “phân phối tr−ớc, tăng tr−ởng sau” của các n−ớc theo h−ớng xã hội chủ nghĩa trong nhiều thập kỷ sau đại chiến thế giới lần thứ hai, với sự ngự trị của mô hình kế hoạch hoá tập trung. Theo lập luận mang tính truyền thống và phổ biến của các n−ớc xã hội chủ nghĩa tr−ớc đây, bất bình đẳng và bất công chính là nguyên nhân cản trở sự phát triển. Vì vậy, tr−ớc tiên cần phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội bằng nhiều biện pháp khác nhau để kích thích tăng tr−ởng. Vấn đề phân phối thậm chí đ−ợc coi là nội dung quan trọng nhất của quan hệ sản xuất, có tác dụng mở đ−ờng và thúc đẩy lực l−ợng sản xuất phát triển. Cơ chế phân phối đ−ợc thiết lập sao cho đảm bảo thu nhập phụ thuộc vào đóng góp lao động. Tuy nhiên, xét về mặt thực tế, nền tảng của các quan hệ phân phối ở các n−ớc xã hội chủ nghĩa tr−ớc đây vẫn là chủ nghĩa bình quân, duy trì bình đẳng theo quan điểm bình quân; hơn nữa, các n−ớc này đã thực hiện chính sách phúc lợi rộng rãi bất chấp trình độ phát triển kinh tế về cơ bản còn yếu kém. Đ−ờng lối phát triển kinh tế của các n−ớc Bắc Âu theo mô hình “Nhà n−ớc phúc lợi xã hội” cũng là một biểu hiện khác của quan điểm −u tiên cho công bằng xã hội. Các n−ớc này cho rằng công bằng xã hội là động lực thúc đẩy tăng tr−ởng kinh tế. Vì vậy, họ chú trọng thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội rộng rãi, nhà n−ớc tập trung đầu t− vào các hàng hoá công cộng, gắng sức tạo điều kiện để mọi ng−ời dân trong xã hội đều đ−ợc h−ởng thành quả của tăng tr−ởng kinh tế. Nh−ng sau ba bốn thập kỷ, mô hình này cũng bị phá sản do phúc lợi xã hội phình ra v−ợt quá khả năng chịu đựng của nền kinht ế, cho dù tiềm lực vật chất và tài chính của các n−ớc Bắc Âu hơn hẳn các n−ớc xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tr−ớc đây. KT-ML Trong thời kỳ đầu, các mô hình trên là nguồn cổ vũ tinh thần to lớn với mọi tầng lớp nhân dân, tao ra đ−ợc một nguồn động lực thúc đẩy sự tăng tr−ởng kinh tế. Tuy nhiên, qua thời gian, các mô hình này ngày càng bộc lộ nhiều nh−ợc điểm. Tr−ớc hết, để tập trung giải quyết công bằng xã hội cần có nguồn vốn lớn mà điều này không thể đạt đ−ợc nếu không có nền tài chính vững mạnh. Trong khi đó, nếu xét về thực chất, hầu hết các n−ớc đi theo con đ−ờng xã hội chủ nghĩa kiểu cũ đều là những n−ớc có xuất phát điểm thấp, khả năng tích luỹ nội bộ kém. Vì vậy, các chính sách giải quyết công bằng xã hội phần lớn chỉ đ−ợc thực hiện một cách hình thức, rất xa so với mục tiêu mong muốn, rất ít hiệu quả và không thể tạo ra sự phát triển bền vững. Mặt khác, ng−ời lao động đ−ợc nhà n−ớc bao cấp theo kiểu phân phối hiện vật kéo dài trong suốt nhiều thập kỷ, do vậy trở nên thụ động, ỷ nại và dân dần xuất hiện tình trạng kìm hãm hoặc thập chí triệt tiêu động lực thúc đẩy sự tăng tr−ởng kinh tế. c. Quan điểm “Thực hiện đồng thời tăng tr−ởng kinh tế và công bằng xã hội” Nh− đã phân tích, cả hai quan điểm trên đều chứa đựng những mặt bất hợp lý. Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã và đang h−ớng tới một quan điểm mới, kết hợp cả hai xu h−ớng trên, theo đó, tăng tr−ởng kinh tế phải đ−ợc thực hiện đồng thời với việc giải quyết bất bình đẳng xã hội. Ngay từ năm 1968, Murdal là ng−ời đầu tiên đã khẳng định rằng bất bình đẳng cao có thể làm hại cho tăng tr−ởng. Các nhà nghiên cứu khác nh− Ahluwalia (vào năm 1974), Alesia, Perrtotti (1994), Nancey Birdsall, David Ross và Richard Sobort (1995)… cũng đều khẳng định vai trò tích cực của công bằng xã hội đối với tăng tr−ởng kinh tế. Theo quan điểm của Tổ chức Th−ơng mại Thế giới (WTO) thì “không có bằng chứng nào cho thấy sự tăng tr−ởng kinh tế lại đi đôi một cách tích cực với tình trạng bất bình đẳng về thu nhập, hoặc sự bất bình đẳng dấy đ−a tới những nhịp độ tăng tr−ởng cao hơn” (1) KT-ML Để thực hiện quan điểm kết hợp giữa tăng tr−ởng kinh tế và công bằng xã hội, các nhà nghiên cứu cấp tiến đã đ−a ra hai h−ớng đi chính: Một là, h−ớng sự hoạt động kinh tế vào việc giải quyết các nhu cầu cơ bản của con ng−ời. Theo họ, thị tr−ờng không thể phân bổ thích đáng lợi nhuận do tăng tr−ởng kinh tế đem lại, đặc biệt là trong giai đoạn đầu. Chính phủ các n−ớc cần chuyển giao thu nhập từ những tầng lớp đ−ợc lợi nhiều hơn sang những tầng lớp yếu thế trong xã hội bằng các hoạt động trợ cấp, các ch−ơng trình xoá đói giảm nghèo, cung cấp các dịch vụ xã hội miễn phí… Mục tiêu đầu tiên mà các Chính phủ cần đạt đ−ợc là từng b−ớc xoá bỏ tầng lớp nghèo tuyệt đối và hạn chế tầng lớp nghèo t−ơng đối. Hai là, tái phân phối cùng với tăng tr−ởng hay tăng tr−ởng cùng chia sẻ (Redistribution With Growth). Đây là ý t−ởng của Ngân hàng Thế giới (WB) đ−ợc thể hiện trong công trình nghiên cứu cùng tên. Phân phối lại cùng với tăng tr−ởng nhấn mạnh vào việc tăng khả năng sản xuất và tiêu dùng của dân chúng, tức là tăng khả năng tiếp cận với các nguồn lực có khả năng sinh lợi để phát triển và mở ra những cơ hội mới làm tăng thu nhập. H−ớng đi thứ nhất nhằm tháo gỡ những vấn đề có tính cấp bách của các quốc gia đang phát triển. H−ớng đi này có thể đ−ợc thực hiện thông qua việc huy động các nguồn vốn viện trợ trong và ngoài n−ớc. H−ớng đi thứ hai giải quyết theo chiều sâu, mang tính lâu dài, tháo gỡ đ−ợc vấn đề bức xúc nhất của các nền kinh tế đang phát triển bằng cách huy động sức dân và tạo cơ hội để đông đảo nội dung có thể tham gia khai thác, sử dụng các nguồn nhân lực (đất đai, vốn…) theo những chính sách định h−ớng của nhà n−ớc. 2. Sự t−ơng tác giữa tăng tr−ởng kinh tế và công bằng x∙ hội a. Vai trò của tăng tr−ởng kinh tế đối với công bằng xã hội Tr−ớc hết, tăng tr−ởng kinh tế là điều kiện cần thiết để thực hiện những nhu cầu cơ bản và ngày càng tăng của con ng−ời. Xã hội loài ng−ời không thể tồn tại và phát triển nếu không có những thành quả của tăng tr−ởng kinh tế. Với các n−ớc đang phát triển, tăng tr−ởng kinh tế là yêu cầu tiên quyết để thoát khỏi sự ràng buộc với đói khát, đau yếu, bệnh tật… để nâng cao khả năng cạnh tranh, khắc phục sự lệ thuộc và rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các n−ớc đi tr−ớc. Với các n−ớc phát triển, tăng tr−ởng kinh tế đã góp phần mở ra những khả năng, nhu cầu tiêu dùng mới, đáp ứng với những khát vọng vô tận của loài ng−ời; đồng thời góp phần giải phóng con ng−ời khỏi lao động nặng nhọc, lao động cơ bắp nhờ sự phát triển v−ợt bậc của khoa học và công nghệ. Chính W. Arthur Lewis trong tác phẩm nổi tiếng đ−ợc giải th−ởng Nobel “Lý thuyết về tăng tr−ởng kinh tế” đã từng nhấn mạnh: tăng tr−ởng kinh tế có lợi cho xã hội không phải bởi vì của cải nhất thiết làm tăng hạnh phúc, mà vì của cải mở rộng phạm vi lựa chọn của con ng−ời. “Đây là cài mà chúng ta coi là thành tố thứ ba của ý nghĩa nội tại của sự tăng tr−ởng và phát triển: quyền tự do lựa chọn. Ng−ời ta muốn tăng tr−ởng kinh tế là vì nó tạo cho con ng−ời quyền kiểm soát rộng rãi hơn đối với môi tr−ờng xã hội và vật chất, và do vậy, mở rộng quyền tự do của con ng−ời”.(2) KT-ML Bên cạnh đó, tăng tr−ởng kinh tế còn tạo ra nguồn lực vật chất quan trọng để giải quyết những vấn đề xã hội đa dạng, phức tạp, nâng cao mức sống và điều kiện sống của ng−ời dân. Nhờ những thành quả của tăng tr−ởng kinh tế, các quốc gia có chỗ dựa về vật chất và tài chính để thực thi các chính sách giáo dục, y tế, văn hoá cũng nh− các công trình công cộng và các ch−ơng trình phúc lợi chung khác. Tăng tr−ởng kinh tế còn tạo ra nhiều khả năng hơn trong việc thực hiện chăm sóc những nhóm yếu thế trong xã hội nh− ng−ời đau ốm, tàn tật, thiểu năng… và những ng−ời gặp rủi ro thông qua các hoạt động bảo đảm xã hội của quốc gia và các tổ chức, các ch−ơng trình t−ơng hỗ phi Chính phủ. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy, một sự tập trung quá mức cho tăng tr−ởng kinh tế sẽ làm nảy sinh những vấn đề xã hội phức tạp nh− nạn tham nhũng và buôn bán ma tuý, nan ô nhiễm môi tr−ờng và cạn kiệt tài nguyên, sự chệnh lệch giàu nghèo, sự bất bình đẳng xã hội, sự xuống cấp về đạo đức và lối sống, sự lan tràn các hành động bạo lực… Báo cáo về phát triển con ng−ời (Human development report, 1998) với chủ đề “Những mẫu hình tiêu dùng và sự liên quan của nó đến sự phát triển con ng−ời”, đã đ−a ra những bất bình đẳng trong xã hội hiện đại, và nhận định: “sự tăng tr−ởng của tiêu dùng trong thế kỷ XX với quy mô và sự đa dạng ch−a từng thấy, đã đ−ợc phân phối không tốt, để lại vô số những khiếm khuyết và bất bình đẳng lớn”(3). Trong đó, 20% nghèo nhất trong dân số thế giới đã bị loại ra khỏ con bùng nổ về tiêu dùng. Hơn 1 tỷ ng−ời bị t−ớc những nhu cầu tiêu dùng cơ bản. Hơn 2 tỷ ng−ời bị thiếu máu, trong đó 55 triệu ng−ời ở các n−ớc công nghiệp. Trong 4,4 tỷ dân ở các n−ớc đang phát triển, gần 3/5 thiếu những điều kiện vệ sinh cơ bản; gần 1/3 không đ−ợc dùng n−ớc sạch; 1/4 không có điều kiện ở thoả đáng; 1/5 không đ−ợc h−ởng những dịch vụ y tế hiện đại; 1/5 trẻ em không học đến hết bậc tiểu học; 1/5 không đ−ợc ăn uống để có đủ năng l−ợng và chất đạm. Ng−ợc lại, 20% ng−ời giàu nhất thế giới tiêu thụ 45% thịt và cá; 58% tổng số năng l−ợng; 84% tổng l−ợng giấy; sở hữu 87% tổng số xe cộ,v.v… Về tài nguyên và môi tr−ờng sống, cũng theo báo cáo trên, toàn cầu đang đứng tr−ớc hai cuộc khủng hoảng lớn đẩy loài ng−ời đến giới hạn tối đa: một là nạn ô nhiễm môi tr−ờng và chất thải ngày nay đã v−ợt quá khả năng của hành tinh để có thể hút và chuyển đổi chúng; hai là sự sa sút của những tài nguyên có thể khôi phục (n−ớc, đất, rừng, sự đa dạng sinh học) ngày càng tăng ở mức báo động. Thực trạng đáng buồn này càng chứng tỏ rằng, tăng tr−ởng kinh tế dù chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển, song không phải là điều kiện đủ và là th−ớc đo duy nhất. Tăng tr−ởng kinh tế có tác động và ảnh h−ởng hai mặt đối với việc giải quyết công bằng xã hội: một mặt, tăng tr−ởng là biện pháp cần thiết để tạo ra nguồn lực vật chất thực hiện công bằng và mở rộng khả năng lựa chon, thúc đẩy sự phát triển của con ng−ời; mặt khác, tăng tr−ởng kinh tế thái quá có thể dẫn đến hoặc gây ra hiệu ứng phụ làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Việc giải quyết mâu thuẫn này phục thuộc chủ yếu vào mức độ chuẩn xác của hệ thống quan điểm trong chiến l−ợc phát triển và vai trò điều tiết của chính phủ các n−ớc. b. Tác động của công bằng xã hội đến tăng tr−ởng kinh tế Tr−ớc đây, khi các nhà nghiên cứu đồng nhất sự tăng tr−ởng kinh tế với sự phát triển của các quốc gia, thì vai trò của công bằng xã hội đối với tăng tr−ởng kinh tế th−ờng bị coi nhẹ, hoặc một số mô hình phát triển còn coi sự bất bình đẳng về thu nhập là điều kiện cần thiết để thúc đẩy tăng tr−ởng kinh tế. Trong giai đoạn hiện nay, xu h−ớng chung của thế giới cũng đang chuyển h−ớng coi trọng vấn đề giải quyết công bằng xã hội của các quốc gia và thừa nhận vai trò tích cực của công bằng xã hội đối với tăng tr−ởng kinh tế. Việc thực hiện công bằng xã hội tr−ớc hết dựa trên mục tiêu quan trọng nhất của sự phát triển xã hội là bản thân con ng−ời và những quyền lợi chính đáng của con ng−ời. Bất kỳ mô hình tăng tr−ởng nào cũng phải nhằm vào mục tiêu này đối với mọi thành viên chứ không phải chỉ với những nhóm nhỏ cá nhân trong cộng đồng. Sự công bằng xã hội thực thi và mở rộng các quyền của con ng−ời nh− Tuyên ngôn về nhân quyền năm 1948 đã khẳng định: “Tất cả mọi ng−ời đều có quyền h−ởng một mức sống đủ cho sức khoẻ và hạnh phúc của bản thân và gia đình, bao gồm thức ăn, thức mặc, nhà ở, sự chăm sóc y tế và những dịch vụ xã hội cần thiết… Tất cả mọi ng−ời đều có quyền đ−ợc học hành, đ−ợc làm việc… và đ−ợc h−ởng bảo hiểm xã hội”(4). Hội nghị th−ợng đỉnh bàn về con ng−ời tại Co-pen-ha- ghen cũng đã khẳng định: Tăng tr−ởng kinh tế không đồng nhất với việc mang lại hạnh phúc cho con ng−ời, nếu không lấy con ng−ời làm trung tâm. Bên cạnh đó, công bằng xã hội còn là yếu tố quan trọng thúc đẩy khả năng tái sản xuất lao động xã hội, tạo ra động lực đối với khả năng tăng tr−ởng kinh tế. Ng−ợc lại, sự bất công cùng với các vấn đề xã hội bức xúc không đ−ợc giải quyết kịp thời không chỉ tác động xấu tới sự phát triển xã hội, mà còn là nhân tố kìm hãm sức tăng tr−ởng của nền kinh tế. KT-ML Đặc biệt, đối với các n−ớc đang phát triển, việc thực hiện công bằng xã hội giải quyết đ−ợc một số vấn đề lớn, có vai trò nh− những điều kiện tăng tr−ởng lâu dài.. ở một số n−ớc đang phát triển, một bộ phận lớn tầng lớp giàu có không tham gia vào quá trình tích luỹ và tái đầu t− vào nền sản xuất trong n−ớc. Điều này một phần xuất phát từ thực tế bất ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội ở bên trong quốc gia của họ. Việc các nhà t− bản trong n−ớc chi tiêu vào các nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí và mở tài khoản ở n−ớc ngoài là một sự lãng phí lớn nguồn tiềm lực trong n−ớc. “Vì vậy, một chiến l−ợc tăng tr−ởng dựa vào sự gia tăng mức độ bất công trong thu nhập trên thực tế không hơn gì một phép màu mang tính cơ hội đ−ợc tạo ra để giữ các đặc quyền, đặc lợi và duy trì nguyên trạng của nhóm ng−ời th−ợng l−u về kinh tế và chính trị ở các n−ớc Thế giới thứ ba, mà th−ờng là tuyệt đại đa số dân th−ờng phải trả giá cho việc đó. Những chiến l−ợc nh− vậy tốt hơn nên đ−ợc gọi là Phản phát triển”(5) Thu nhập thấp và mức sống thấp của ng−ời nghèo dẫn đến tình trạng sức khoẻ, giáo dục kém và khả năng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thấp; năng suất thấp lại kéo theo thu nhập thấp… tạo nên một vòng luẩn quẩn khó thoát ra khỏi sự nghèo đói. Trong khi đó, tầng lớp ng−ời nghèo chiếm đa số trong các n−ớc đang phát triển. Vì vậy, việc tăng thu nhập cho ng−ời nghèo bằng các chính sách của chính phủ vừa có tác dụng tăng thêm năng suất sản xuất của toàn xã hội, vừa tăng thêm nhu cầu tiêu dùng các hàng hoá thiết yếu. Điều này tạo ra một động lực kích thích sản xuất trong n−ớc phát triển, tạo điều kiện tăng tr−ởng kinh tế và thu hút sự tham gia vào quá trình phát triển của mọi tầng lớp và thành phần xã hội. KT-ML Sự công bằng đ−ợc thực hiện thông qua phân phối thu nhập có tác dụng nh− một hình thức khuyến khích về vật chất và tinh thần để mở rộng sự tham gia của quần chúng vào quá trình phát triển. Ng−ợc lại, sự bất bình đẳng đ−ợc thừa nhận trong xã hội sẽ là một trở lực lớn về tâm lý đối với tiến bộ kinh tế và tạo ra những bất mãn xã hội của dân chúng. Trong nền kinh tế thị tr−ờng hiện đại, công bằng xã hội đ−ợc thực hiện theo xu h−ớng tăng tr−ởng và phát triển bền vững. Sự tăng tr−ởng và phát triển bền vững ở đây không có nghĩa chỉ bao hàm sự tăng tr−ởng đi đôi với bảo vệ môi tr−ờng mà là sự tăng tr−ởng gắn với sự phát triển con ng−ời. Tính bền vững có thể hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không làm hại đến những năng lực và cơ hội của các thế hệ t−ơng lai. Nh− vậy, phát triển bền vững bao hàm sự công bằng trong từng thế hệ và giữa các thế hệ với nhau. iii. Kết luận Tăng tr−ởng kinh tế và công bằng xã hội có thể coi nh− hai mặt t−ơng hỗ trong một chỉnh thể xã hội. Chúng tồn tại một cách khách quan và sự mâu thuẫn giữa chúng là mâu thuẫn nội tại mang tính biện chứng của sự phát triển: Tăng tr−ởng kinh tế vừa là môi tr−ờng nảy sinh các vấn đề xã hội, vừa là điều kiện cần thiết để thực hiện công bằng xã hội. Đồng thời, công bằng xã hội góp phần thúc đẩy tăng tr−ởng kinh tế, nhằm từng b−ớc phát triển kinh tế toàn diện; song, nếu nhấn mạnh thái quá các mục tiêu xã hội, đặt các vấn đề xã hội tách rời khỏi điều kiện vật chất thì sẽ thúc đẩy nền kinh tế vào trạng thái trì trệ. Chú thích: (1). Báo cáo phát triển con ng−ời năm 1998, trang 12. (2). Kinh tế học cho thế giới thứ ba, trang 175 (3). Báo cáo phát triển con ng−ời năm 1998, trang 35. (4). Báo cáo phát triển con ng−ời năm 1998, trang 21. (5). Kinh tế học cho Thế giới thứ ba, trang 221 Tài liệu tham khảo [1]. Mai Ngọc C−ờng. Lịch sử các học thuyết kinh tế. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997. [2]. Torodol. Kinh tế học cho thế giới thứ ba. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998. [3]. UNDP. Báo cáo phát triển con ng−ời năm 1998. Hà Nội, 1999. [4]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001♦

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf05_2008_600_8879.pdf