Sư phạm mở trong nền giáo dục mở

Trong tác phẩm L. Tolstoi và F. Nietzsche bàn về giáo dục (dẫn

theo Lê Ngọc Trà, 2017) đã thể hiện mơ ước xây dựng nền giáo dục

“hình thành trên cơ sở quyền tự do của thế hệ học trò mới” cho một

thế kỉ sau thời đại của ông. Theo ông, tự do là thứ quý giá nhất của con

người. Con người có tự do sẽ có được hạnh phúc và sức sáng tạo. Tự

do có quan hệ hữu cơ với giáo dục, trong đó giáo dục đóng vai trò giải

phóng và nuôi dưỡng tự do cho con người. Tuy nhiên, phần lớn thời

gian trong lịch sử phát triển của con người giáo dục vẫn chưa thể hiện

được vai trò đó như L. Tolstoi đã viết “Giáo dục là ý nguyện của một

người muốn biến người khác thành một kẻ giống anh ta”. Theo đó, nền

giáo dục đã đạt được mục tiêu “cố ý hình thành người khác theo những

khuôn mẫu nhất định, không hiệu quả, không hợp pháp và cũng không

thể làm được”. Tại Việt Nam, quan điểm về giáo dục của Chủ tịch Hồ

Chí Minh cũng đã phản ánh từ rất sớm “giáo dục là của mọi người, vì

mọi người, cho mọi người, mọi người được quyền bình đẳng hưởng

thụ thành quả của nền giáo dục và có nghĩa vụ đóng góp xây dựng phát

triển giáo dục” (dẫn theo Cao Văn Phường, 2015, tr.337). Có thể thấy

nền giáo dục nhân loại đã từng trải qua chưa thực sự thành công theo

góc nhìn mối quan hệ giữa tự do và giáo dục. Phải chăng, đã đến lúc

chúng ta cần thảo luận và quyết định sự biến đổi cần thiết cho giáo dục

trong tương lai?

pdf9 trang | Chia sẻ: Thục Anh | Ngày: 19/05/2022 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Sư phạm mở trong nền giáo dục mở, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
SƯ PHẠM MỞ TRONG NỀN GIÁO DỤC MỞ TS. Nguyễn Thị Hảo1 MỞ ĐẦU Trong tác phẩm L. Tolstoi và F. Nietzsche bàn về giáo dục (dẫn theo Lê Ngọc Trà, 2017) đã thể hiện mơ ước xây dựng nền giáo dục “hình thành trên cơ sở quyền tự do của thế hệ học trò mới” cho một thế kỉ sau thời đại của ông. Theo ông, tự do là thứ quý giá nhất của con người. Con người có tự do sẽ có được hạnh phúc và sức sáng tạo. Tự do có quan hệ hữu cơ với giáo dục, trong đó giáo dục đóng vai trò giải phóng và nuôi dưỡng tự do cho con người. Tuy nhiên, phần lớn thời gian trong lịch sử phát triển của con người giáo dục vẫn chưa thể hiện được vai trò đó như L. Tolstoi đã viết “Giáo dục là ý nguyện của một người muốn biến người khác thành một kẻ giống anh ta”. Theo đó, nền giáo dục đã đạt được mục tiêu “cố ý hình thành người khác theo những khuôn mẫu nhất định, không hiệu quả, không hợp pháp và cũng không thể làm được”. Tại Việt Nam, quan điểm về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã phản ánh từ rất sớm “giáo dục là của mọi người, vì mọi người, cho mọi người, mọi người được quyền bình đẳng hưởng thụ thành quả của nền giáo dục và có nghĩa vụ đóng góp xây dựng phát triển giáo dục” (dẫn theo Cao Văn Phường, 2015, tr.337). Có thể thấy nền giáo dục nhân loại đã từng trải qua chưa thực sự thành công theo góc nhìn mối quan hệ giữa tự do và giáo dục. Phải chăng, đã đến lúc chúng ta cần thảo luận và quyết định sự biến đổi cần thiết cho giáo dục trong tương lai? 1 Ban Đại học, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh. 76 XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ Những biến đổi trong giáo dục được xem là quá trình tiến hóa chứ không phải là cuộc cách mạng. Đây là một quá trình tiến hóa có chọn lọc nghĩa là chỉ giữ lại và phát triển những gì phù hợp với quy luật, chân lý và loại bỏ những điều không còn phù hợp nữa (Cao Văn Phường, 2015). Sự tiến bộ của xã hội loài người gắn liền với sự biến đổi trong tất cả các lĩnh vực cấu thành nên xã hội đó. Do vậy, bất kỳ sự biến đổi nào của giáo dục được yêu cầu và diễn ra đều có lý do của nó. Và giáo dục mở được xem như là một biến đổi tất yếu để đáp ứng nhu cầu vươn tới xã hội văn minh, hiện đại hơn và đáp ứng nhu cầu “tự do” của con người. Nền giáo dục mở cần sự đồng hành của khoa học mở, truy cập mở, tài liệu giáo dục mở và sư phạm mở. Để thực hành giáo dục mở hiệu quả cần phải hiểu khái niệm sư phạm mở và các vấn đề có liên quan của sư phạm mở. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi trình bày những trao đổi xoay quanh sư phạm mở. Sư phạm mở là một khái niệm xuất hiện gần đây, sau giáo dục mở, nguồn tài nguyên giáo dục mở và chỉ dừng lại ở mức độ trao đổi ý tưởng nhiều hơn là nghiên cứu và đề xuất mô hình, nguyên tắc hay xác định các thành tố cấu phần của sư phạm mở. Phần sau, bài viết tập trung vào các nội dung chính sau: Giáo dục mở, tài nguyên giáo dục mở, sư phạm mở. GIÁO DỤC MỞ Khi bàn về giáo dục mở, các nhà nghiên cứu và thực hành giáo dục mở thường nhấn mạnh đến nền móng của tính mở trong các tư tưởng khai sáng liên quan đến chủ nghĩa tự do, quyền tự do, quyền công dân, tiến bộ xã hội, và sự biến đổi. Chính các tư tưởng này là nền tảng cho sự ra đời của giáo dục mở, truy cập mở, nguồn mở, khoa học mở, dữ liệu mở (Dastur, F. 2017). Trên con đường tiến hóa đến cấp độ mang lại tự do cho con người, giáo dục mở được xem là phương thức giáo dục phù hợp. Và dĩ nhiên, trên con đường tiến hóa ấy, giáo dục mở trải qua nhiều giai đoạn. Với bối cảnh hiện nay, phần lớn các thảo luận trên thế giới về khái niệm này đều thống nhất cao: “Giáo dục mở là giáo dục trong đó các rào cản không cần thiết trên con đường đến với giáo dục được dỡ bỏ”.[1] 77PHẦN 1. TIẾP CẬN GIÁO DỤC MỞ VÀ TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ Việc loại bỏ những rào cản đối với giáo dục và học tập được thực hiện thông qua triển khai nhiều biện pháp giúp tăng cường cơ hội giáo dục chất lượng cho mọi người tùy theo bối cảnh của từng quốc gia. Các rào cản trong tiếp cận giáo dục chất lượng tập trung phổ biến vào: khả năng chi trả cho giáo dục; tiếp cận giáo dục chất lượng không khả thi do trở ngại về thời gian, không gian. Do vậy, Đại học Mở (Open University, Anh) bỏ các yêu cầu thi đầu vào hoặc nhập học. Ở Bắc Mỹ, giáo dục mở hướng đến giảm các rào cản về chi phí truy cập tài liệu học tập và sự phù hợp của khóa học đối với thế giới thực. Trong khi đó sự ra đời của Khóa học Trực tuyến Mở Đại chúng - MOOC (Massive Open Online Course) đem đến cơ hội học tập miễn phí và không yêu cầu tiêu chuẩn đầu vào cho mọi người (Walz, A. 2017). Với sự ra đời của giáo dục mở đã dần xóa bất bình đẳng trong giáo dục; thúc đẩy học tập suốt đời vì chi phí thấp và tính tiện ích; nâng cao chất lượng giáo dục trên diện rộng. Nền giáo dục mở được hình thành và phát triển theo nhiều cách thức, tác động bền bỉ khác nhau, chẳng hạn thông qua dự án lớn được chính phủ và các tổ chức từ thiện tài trợ (Baraniuk et al.); sáng kiến của những nhà thực hành giáo dục (Hartnett; Diener et al.) trong việc xuất bản tạp chí truy cập mở (Weijers & Jardan), phát triển nền tảng để hỗ trợ thẩm tra khoa học có tính cộng tác, tự do chia sẻ các tài nguyên dạy và học (Strohmetz, Ciarocco, & Lewandowski; Miller & Zhao), thiết kế lại khóa học để đáp ứng nhu cầu người học (DeRosa & Robison), quá trình dẫn dắt khoa chuyên môn tiến tới thực hành giáo dục mở (Dastur), hay hỗ trợ truy cập mở và giáo dục mở từ thư viện đại học (Walz; West). Như vậy, đây là một quá trình biến đổi đòi hỏi thời gian và sự nỗ lực, chung sức bền bỉ của các bên liên quan bao gồm những nhà làm chính sách, cộng đồng xã hội, đội ngũ quản lý – giảng dạy – hỗ trợ, Có thể nhận thấy, một cách tổng thể, các thực hành giáo dục mở trong giai đoạn này tìm cách cải thiện chất lượng giáo dục và chất lượng truy cập nguồn tài nguyên mở. TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ (OER – OPEN EDUCATIONAL RESOURCES) Tại diễn đàn UNESCO, 2002, khái niệm tài nguyên giáo dục mở (OER) lần đầu tiên được thông qua khi tiến hành đánh giá về tác động 78 XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ của Open Course Ware (OCW) đối với giáo dục đại học của các nước đang phát triển. Một cách phổ biến nhất, OER được định nghĩa là các tư liệu học tập tự do không mất tiền, số hóa, được chia sẻ dễ dàng và điều đặc biệt là phải được cấp phép mở, bao gồm: các khóa học đầy đủ, các tài liệu học tập, các module nội dung, các đối tượng học tập, tuyển tập, tạp chí. Khi được cấp phép mở cho phép OER được sử dụng lại, pha trộn, làm lại, phân phối lại, và giữ lại. Chính điều này giúp cho việc phát huy vai trò của người học và người dạy trong việc biên tập, thích nghi tài liệu cho phù hợp với mục tiêu học tập. Việc này thúc đẩy mối quan hệ giữa người học và thông tin, kiến thức. Trong quá trình học tập, người học không phải tiếp nhận thông tin, kiến thức tĩnh từ sách giáo khoa như cách học trước đây mà bản thân họ tiếp nhận thông tin, tri thức từ OER như là nguyên liệu đầu vào để họ có thể xử lý, phát triển thành thông tin, tri thức mới hơn thông qua các phần mềm hỗ trợ việc tạo lập, phân phối, sử dụng và cải thiện nội dung học tập mở. Chính người học đóng góp ý nghĩa vào việc tạo ra tri thức cho nhân loại thông qua quá trình học tập của mình và hình thành nên cộng đồng nguồn mở - nơi người học thể hiện mình với một vai trò khác là nhà phát triển tài liệu học tập (DeRosa, R and Robison S. 2017). Hiện nay, phần mềm connexions cho phép việc phát triển và xuất bản tài liệu trở nên dễ dàng với mọi người. Nội dung được cấu trúc dưới hai dạng 1) Module: là một chủ đề nhỏ hoặc một phần hoàn chỉnh của chủ đề lớn; 2) Course: là tập hợp các module được sắp xếp theo một trình tự nhất định để tạo thành một giáo trình. Các tác giả xây dựng các module từ những ý tưởng, thông tin, hay quan điểm, và lưu trữ trong kho lưu trữ của phần mềm. Dựa vào mục tiêu dạy học người dạy sẽ soạn thảo bài giảng bằng cách sắp xếp các module kiến thức này sẽ tạo ra các giáo trình/bài giảng (Course) và phân phối đến người học. Như vậy, phần mềm này cho phép tài liệu được tái sử dụng, được pha trộn, làm lại, phân phối lại, và giữ lại và bất kỳ ai cũng có thể trở thành người phát triển tài liệu và phân phối tài liệu [2]. 79PHẦN 1. TIẾP CẬN GIÁO DỤC MỞ VÀ TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ TRUY CẬP MỞ Truy cập mở làm cho các nghiên cứu và tài nguyên mở được truy cập tự do, miễn phí tới tất cả mọi người và hầu hết không có các hạn chế về bản quyền hoặc việc cấp phép sử dụng. Truy cập mở mang lại cho người học cơ hội thụ hưởng nguồn tài nguyên học thuật miễn phí phong phú và nhanh chóng. Và do vậy sẽ đóng góp vào chất lượng quá trình đào tạo của người học [3]. Như vậy, có thể thấy nền giáo dục mở có một số đặc trưng: - Người học không chỉ lĩnh hội mà còn đóng góp tạo ra tri thức cho nhân loại thông qua quá trình học tập của mình. - Giáo dục mở dựa trên tinh thần chia sẻ, sáng tạo. - Tạo bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục. SƯ PHẠM MỞ Sư phạm mở được hiểu là tập hợp hoạt động dạy và học chỉ có thể xảy ra trong bối cảnh truy cập mở thỏa mãn các đặc điểm của nguồn tài nguyên giáo dục mở: sử dụng lại, pha trộn, làm lại, phân phối lại, và giữ lại [4]. Theo sư phạm mở được hiểu là nơi có sự kết hợp giữa lý thuyết về học tập, giảng dạy, công nghệ và công bằng xã hội và tạo ra sự phát triển của cấu trúc và thực tiễn giáo dục. Đây là một khái niệm mới xuất hiện sau khái niệm học liệu mở. Cho đến thời điểm này vẫn chưa có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu các vấn đề lý luận về giáo dục mở, do vậy có thể chấp nhận một định nghĩa mang tính tương đối để hướng đến mục đích truyền cảm hứng cho các nhà thực hành giáo dục mở. Từ hai định nghĩa trên cho thấy sư phạm mở được xây dựng trên lý thuyết dạy – học, có sự tham gia của yếu tố công nghệ và nguồn tài nguyên giáo dục mở được cấp phép. Theo quan điểm của sư phạm mở cũng dựa trên các trường phái, quan điểm sư phạm hiện đại và cổ điển như dạy học theo thuyết kiến tạo, học tập kết nối, sư phạm số biện luận (critical digital pedagogy). Một vài thí dụ thể hiện nền tảng 80 XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ chung về các lý thuyết dạy – học mà các nền sư phạm cùng chia sẻ: dạy học kiến tạo trong bối cảnh sử dụng công nghệ đã xuất hiện các chỉ trích mô hình học tập công nghiệp và tự động, đề cao yêu cầu lấy người học làm trung tâm và học tập trải nghiệm cũng như các tầm nhìn dân chủ cho quá trình giáo dục. Với học tập kết nối, yếu tố công nghệ đóng vai trò hỗ trợ tích cực cho người học trong quá trình kết nối giúp cho người học lĩnh hội được kiến thức đầy đủ nhất. Trong nghiên cứu của mình, Bronwyn Hegarty (2015) đã đưa ra đề xuất tám thuộc tính của sư phạm mở, bao gồm: ♦Thuộc tính 1: Công nghệ cùng tham gia (Participatory technologies): sử dụng cho tương tác qua môi trường web 2.0, mạng xã hội và ứng dụng di động. Công nghệ đóng vai trò thúc đẩy sự tham gia. ♦Thuộc tính 2: Con người, mở và lòng tin: phát triển lòng tin, sự tự tin và tính mở để làm việc với người khác. ♦Thuộc tính 3: Sáng tạo và đổi mới: khuyến khách sự đổi mới và sáng tạo tự phát. ♦Thuộc tính 4: Chia sẻ ý tưởng và nguồn lực: chia sẻ ý tưởng và nguồn lực tự do để lan tỏa kiến thức. ♦Thuộc tính 5: Cộng đồng kết nối: tham gia vào cộng đồng chuyên môn kết nối. ♦Thuộc tính 6: Người học tạo ra: hỗ trợ cho những đóng góp vào tài nguyên giáo dục mở của người học. ♦Thuộc tính 7: Thực hành phản tỉnh: tham gia vào các cơ hội thực hành phản tỉnh. ♦Thuộc tính 8: Đánh giá đồng đẳng: phê bình mở các học giả khác. Như vậy, có thể thấy rằng việc vận dụng các nguyên tắc dạy học, nguyên lý thiết kế, phương pháp tổ chức dạy học và đánh giá học tập theo tiếp cận lấy người học làm trung tâm hay hướng vào người học, trong đó có lưu ý đế tám thuộc tính của sư phạm mở theo nghiên cứu của Bronwyn Hegarty (2015). Trong nền giáo dục mở, việc thiết kế giảng dạy trong các chương trình giáo dục đại học với thí dụ từ cấp độ môn học cho thấy: việc thiết kế giảng dạy cần bắt đầu từ mục tiêu và 81PHẦN 1. TIẾP CẬN GIÁO DỤC MỞ VÀ TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ chuẩn đầu ra của môn học. Với từng chuẩn đầu ra người dạy cần xác định cấp độ của chuẩn đầu ra và lĩnh vực mà chuẩn đầu ra đang đề cập đến: kiến thức, kỹ năng, thái độ. Áp dụng nguyên tắc sự tương thích có hệ thống của John Biggs (2003) để thiết kế các hoạt động dạy học và kiểm tra đánh giá sao cho (1) các hoạt động dạy học giúp người học dấn thân vào động từ của chuẩn đầu ra, (2) hình thức và nội dung đánh giá giúp người học đạt được và đo lường được chuẩn đầu ra. Môi trường học tập kiến tạo là một điều kiện tiên quyết cho sự thành công của quá trình dạy học, trong đó bao gồm các yếu tố vật chất và phi vật chất giúp người học có động cơ, cảm hứng học tập, và trải nghiệm có ý nghĩa đối với việc học của bản thân. Trong quá trình dạy học đó người dạy đóng vai trò là người định hướng, hỗ trợ, lãnh dạo hoạt động học của người học trong khi người học thực hiện vai trò tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của bản thân. Ngoài ra, cần lưu ý vai trò và ý nghĩa của OER trong sư phạm mở và khai thác sự đóng góp của OER để tạo ra sự biển đổi nơi người học. Một số thí dụ: - Tùy biến OER cho phù hợp với người học bằng cách đưa thêm các câu hỏi hoặc tình huống có vấn đề làm tăng cường hiệu quả học tập người học và đóng góp lại cho OER - Cùng người học xây dựng OER bằng cách yêu cầu họ tóm tắt, trình bày lại nội dung từ OER hay tổ chức các dự án đóng góp ý tưởng, hoàn thiện giáo trình học tập đều là những cách làm hữu ích giúp người học đóng góp vào kiến thức chung của cộng đồng. Điều này thể hiện rằng người học không chỉ lĩnh hội tri thức mà còn đóng góp của sự phát triển OER. - Xây dựng môi trường học tập mang tính kiểm soát người học bằng hệ thống quản lý học tập LMS giúp người học tập trung vào mục tiêu học tập của bản thân, tránh sự sao nhãng do tác động từ nhiều yếu tố khác nhau trong môi trường học tập kết nối internet. Ngoài ra, cần xây dựng môi trường học tập giúp người học tự tạo lập và quản lý việc học của bản thân. - Khuyến khích người học dùng sự hiểu biết của mình đóng góp cho cộng đồng để tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cũng như bước đầu nâng đỡ người học thành các học giả của cộng đồng. 82 XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ - Thúc đẩy người học tham gia trao đổi cùng học giả và chuyên gia để phát triển khả năng đàm thoại cũng như thông qua việc sử dụng mạng xã hội để tìm kiếm cố vấn, chuyên gia, đồng môn, - Điều chỉnh chuẩn đầu ra dựa trên việc lấy ý kiến của người học; xây dựng chính sách, bài kiểm tra, thang tiêu chí chấm điểm và kế hoạch triển khai nhằm thúc đẩy người học nỗ lực và thành công trong môn học - Cho người học tham gia quản lý nội dung khóa học nhằm tăng cường kỹ năng mềm thế kỉ XXI của họ. - Đưa ra những câu hỏi mang tính phản biện dựa vào những thách thức, vấn đề mang tính thời sự và tạo cơ hội cho người học hợp tác với nhau để tiến bộ. THAY LỜI KẾT Là một chủ đề mới nhưng rất cần những nghiên cứu sâu nhằm tìm ra định nghĩa, thành tố, nguyên tắc của sư phạm mở thúc đẩy nền giáo dục mở thành công. Một khi nền giáo dục mở phát triển sẽ mang lại nhiều giá trị cho cộng đồng, quốc gia, do vậy nghiên cứu về chủ đề này một cách toàn diện là một hoạt động cần được triển khai sớm. CHÚ GIẢI [1] he-thong-giao-duc-truyen-thong-va-he-thong-giao-duc-mo-84467, truy cập ngày 5/9/2019 [2] https://voer.edu.vn/m/hoc-lieu-mo-va-cac-khai-niem-co-ban/02fd0ea9 [3] va-truy-cap-mo-trong-viec-nang-cao-chat-luong-giao-duc-dai-hoc-o-viet-nam.html [4] https://opencontent.org/blog/archives/2975). TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Biggs, J.B. (2003). Teaching for quality learning at university. Buckingham: Open University Press/Society for Research into Higher Education. (Second edition). 2. Bronwyn Hegarty. (2015). Attribute of Open Pedagogy: A Model for 83PHẦN 1. TIẾP CẬN GIÁO DỤC MỞ VÀ TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ Using Open Educational Resources. JSTOR. 3. DeRosa, R and Robison S. (2017). From OER to Open Pedagogy: Harnessing the Power of Open. In: Jhangiani, R S and Biswas-Diener, R. (eds.) Open: The Philosophy and Practices that are Revolutionizing Education and Science. Pp. 115–124. London: Ubiquity Press. 4. Walz, A. 2017. A Library Viewpoint: Exploring Open Educational Practices. In: Jhangiani, R S and Biswas-Diener, R. (eds.) Open: The Philosophy and Practices that are Revolutionizing Education and Science. Pp. 147–162. London: Ubiquity Press. DOI: https://doi.org/10.5334/ bbc.l. License: CC-BY 4.0. 5. Cao Văn Phường. (2015). Hành trình đến nền giáo dục Mở, NXB Văn học. 6. Lê Ngọc Trà. (2017). Giáo dục và tự do. Báo Tia sáng. Truy cập ngày 5/9/2019.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfsu_pham_mo_trong_nen_giao_duc_mo.pdf
Tài liệu liên quan