Áp dụng IFRS ở các nước và kinh nghiệm cho Việt Nam

Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, hầu như các nước đều đã áp dụng Chuẩn mực BCTC

quốc tế (IFRS) để lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC). Trong khi các nước trên thế

giới đã áp dụng IFRS từ năm 2005, Việt Nam vẫn đang trong quá trình xem xét cách thức áp

dụng IFRS cho phù hợp bối cảnh nền kinh tế thị trường đang trong giai đoạn chuyển đổi và

cũng chưa có lộ trình áp dụng IFRS cụ thể. Bài viết, trình bày quá trình áp dụng IFRS của

các nước, từ đó rút ra một số khuyến nghị để Việt Nam áp dụng IFRS như cần có lộ trình thực

hiện, từ khuyến khích đến dần bắt buộc; lựa chọn một số loại hình công ty như công ty có vốn

nước ngoài, công ty đại chúng có niêm yết để bắt đầu thực hiện; lựa chọn một số IFRS phù

hợp với điều kiện của Việt Nam để áp dụng trước; nhờ tư vấn của chuyên gia từ các nước đã

có áp dụng IFRS; ban hành thêm một số chuẩn mực mới phù hợp IFRS; tăng cường vị thế của

hiệp hội nghề nghiệp; nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện.

pdf9 trang | Chia sẻ: Thục Anh | Ngày: 24/05/2022 | Lượt xem: 218 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Áp dụng IFRS ở các nước và kinh nghiệm cho Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
về cơ chế quản lý kinh tế, hệ thống luật pháp nên Việt Nam chưa thể áp dụng hoàn toàn theo IFRS. Trước mắt, Việt Nam nên lựa chọn và áp dụng một số chuẩn mực thuộc IFRS, tiến tới thông qua hoàn toàn IFRS. Lộ trình áp dụng IFRS của Việt Nam nên dựa trên cơ sở cho phép áp dụng IFRS hơn là bắt buộc. Theo kinh nghiệm từ các nước thuộc liên minh Châu Âu, Mỹ, Úc, Singapore, trong giai đoạn đầu nên khoanh vùng các đối tượng ưu tiên thực hiện, theo đó chỉ bắt buộc thực hiện với những công ty có vốn đầu tư nước ngoài, công ty đại chúng có niêm yết, ngân hàng và tổ chức tài chính. - Thứ hai, Trong quá trình nghiên cứu áp dụng IFRS, Việt Nam rất cần sự tư vấn từ các nước có kinh nghiệm thực hiện IFRS từ thời điểm rất sớm như Úc và Mỹ, cũng như những nước gần đây mới thực hiện IFRS nhưng có nền kinh tế khá tương đồng như Thái Lan, Malaysia và các tổ chức như IASB, AOSSG. Kinh nghiệm từ những quốc gia này sẽ là những bài học quý giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách áp dụng hoàn toàn IFRS. - Thứ ba, Thời điểm soạn thảo và ban hành VAS (26 chuẩn mực) là từ 2001 đến 2005. Đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã gia nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, đồng thời IASB cũng đã ban hành nhiều CMKT quốc tế mới. Do đó, VAS cũng đã trở nên lạc hậu khi không cập nhật kịp thời những thay đổi và bổ sung của IAS/IFRS. Để đảm bảo tính kịp thời trước những thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế, Thông tư 200/2014/TT-BTC và Thông tư 202/2014/TT-BTC được ban hành, tuy nhiên, trong đó lại có những nội dung mới mà chưa có chuẩn mực tương ứng như: Thuyết minh công cụ tài chính (IFRS7), đo lường giá trị hợp lý (IFRS13), chuẩn mực về doanh thu (IFRS15). Vì vậy, Bộ Tài chính cần ban hành bổ sung các chuẩn mực hiện có để đảm bảo sự thống nhất, phù hợp giữa CMKT và chế độ kế toán, đồng thời tiếp tục ban hành mới các CMKT Việt Nam theo sát với IAS/IFRS như công cụ tài chính (IFRS9), các khoản hoãn lại theo luật định (IFRS 14), thanh toán bằng cổ phiếu (IFRS2), giảm giá trị tài sản (IAS36). - Thứ tư, Áp dụng Giá trị hợp lý ghi nhận tài sản và nợ phải thu là những điểm nổi bật làm VAS chưa thật sự hòa hợp hoàn toàn IFRS. Tuy Luật Kế toán số 88/2015/QH13 có đề cập đến giá trị hợp lý, nhưng đến nay vẫn chưa có chuẩn mực tương đương, văn bản hướng dẫn phương pháp định giá, phạm vi áp dụng Theo IASB, để đo lường giá trị hợp lý cần giá niêm yết trên thị trường hoạt động, do đó, Việt Nam cần hoàn thiện yếu tố môi trường kinh tế và luật pháp nhằm tạo ra thị trường hoạt động đầy đủ để làm cơ sở cho việc xác định giá trị n trÞ - Kinh nghiÖm quèc tÕ vµ thùc tr¹ng ë ViÖt Nam 134 hợp lý của tài sản và nợ phải thu. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần phải xây dựng các quy định và hướng dẫn về giá trị hợp lý và sử dụng giá trị hợp lý nhằm đảm bảo thực hiện đồng bộ CMKT có sử dụng giá trị hợp lý. - Thứ 5, Tăng cường vị thế các Hiệp hội nghề nghiệp Việt Nam (VACPA, VAA, ACCA) trong việc hiến kế cho Bộ Tài chính soạn thảo Luật Kế toán, CMKT, kiểm toán, chế độ kế toán theo thẩm quyền của các cấp ban hành. Trong tương lai, thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện nên trao cho các Hiệp hội nghề nghiệp như kinh nghiệm từ các nước phát triển. Điều này cũng thể hiện chức năng làm cầu nối giữa cơ quan quản lý với các DN của các hiệp hội nghề nghiệp như các quy định do Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành. - Thứ 6, Kinh nghiệm từ Malaysia, Thái Lan, Indonesia cho thấy, một trong những bước không thể thiếu cho quá trình chuẩn bị cũng như thực hiện lộ trình áp dụng IFRS là nâng cao chất lượng đội ngũ trực tiếp áp dụng IFRS. Việc áp dụng IFRS đồng nghĩa với việc áp dụng kế toán dựa trên nguyên tắc (principle-based accounting), điều này là một thử thách khi yêu cầu người hành nghề có khả năng phán xét nghề nghiệp. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam gia nhập AEC, kế toán là một trong tám ngành nghề được phép dịch chuyển trong khu vực, do đó càng làm gia tăng áp lực buộc người hành nghề kế toán Việt Nam phải có chuyên môn sâu, có hiểu biết và kiến thức tốt về kinh tế, tài chính, khả năng ngoại ngữ và tin học. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ trực tiếp áp dụng IFRS, sinh viên là một đối tượng tiềm năng trong tương lai sẽ sử dụng IFRS mà không thể bỏ qua, do vậy, cần học tập kinh nghiệm của Trung Quốc, một trong những nước Châu Á đưa IFRS vào trường đại học như chương trình đào tạo chính thức. Các trường đại học tại Việt Nam có thể lồng ghép chương trình đào tạo các chứng chỉ nghề nghiệp kế toán, kiểm toán như ACCA, CPA, CATvào khung chương trình đào tạo để sinh viên có cơ hội tiếp cận sớm với IFRS, cũng như có thêm các chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế nhằm tăng khả năng cạnh tranh trong điều kiện thị trường lao động hội nhập quốc tế. Tóm lại, việc áp dụng IFRS nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập,cải thiện tính minh bạch, tính so sánh và tính thống nhất của BCTC, từ đó giúp DN tiếp cận nguồn vốn đầu tư nước ngoài tốt hơn, thông qua đó thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển. Tuy nhiên, quá trình này cần có lộ trình cụ thể, cần sự quyết tâm và nỗ lực phối hợp thực hiện đồng bộ từ nhiều phía như các nhà ban hành luật, lãnh đạo DN, các hiệp hội, các nhà nghiên cứu, trường đại học cũng như kế toán viên và kiểm toán viên. Kết luận Việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế IFRS lập BCTC là xu thế tất yếu trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu. IFRS với vai trò là ngôn ngữ chung về kế toán quốc tế, giúp cải thiện tính minh bạch và mức độ tin cậy về thông tin tài chính trên BCTC, giúp gia tăng niềm tin từ các nhà đầu tư, từ đó giúp nền kinh tế cũng như DN thu hút nhiều vốn đầu tư. Tuy nhiên, quá trình áp dụng IFRS của các nước phát triển và đang phát triển cho thấy đây là quá trình dài, khó khăn và cần nhiều thời gian chuẩn bị thực hiện. Việt Nam, trong quá trình hội nhập, cũng nhận thức được sự cần thiết phải áp dụng IFRS cũng như những lợi ích và khó khăn mà quá trình áp dụng IFRS mang lại. Tuy nhiên, n trÞ - Kinh nghiÖm quèc tÕ vµ thùc tr¹ng ë ViÖt Nam 135 trong quá trình thực hiện IFRS, Việt Nam nên học tập kinh nghiệm các nước để xây dựng lộ trình thực hiện vững chắc, để việc áp dụng IFRS được thuận lợi, nhanh chóng và đạt kết quả tốt. Một số kinh nghiệm quý giá và phù hợp có thể được áp dụng tại Việt Nam khi áp dụng IFRS là cần có lộ trình thực hiện, từ khuyến khích đến dần bắt buộc; lựa chọn một số loại hình công ty như công ty có vốn nước ngoài, công ty đại chúng có niêm yết để bắt đầu thực hiện; lựa chọn một số chuẩn mực thuộc IFRS phù hợp với điều kiện của Viêt Nam để áp dụng trước; nhờ tư vấn của chuyên gia từ các nước đã có áp dụng IFRS; ban hành thêm một số chuẩn mực mới phù hợp IFRS; tăng cường vị thế của hiệp hội nghề nghiệp; nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện...‡ ------------------------ Tài liệu tham khảo Duc Hong Thi Phan, B. M. (2014). Optimal approach and timeline for IFRS adoption in Vietnam: Perceptions from accounting professionals. Elsevier. doi: Duc Hong Thi Phan, B. M., Meropy Barut. (2014). International Financial Reporting Standards (IFRS) Adoption in VietNam: If, When and How? Corporate Ownership & Control, 11(4). Hanefah, H. M. M. (2012). Convergence Towards IFRS in Malaysia: Issues, Challenges and Opportunities. International Jounal od Business, Economics and Law, 1. Hans Hoogervorst , S. L., Patricia McConnell, Stephen Cooper, Chungwoo Suh. (2014). Singapore to introduce IFRSs-identical financial reporting framework for Singapore listed companies in 2018. Pacter, P. (2005). What exactly is convergence? Accounting, Auditing and Perfomance Evaluation, Vol. 2, Nos. 1/2,2005, 2. PWC. (2015). The IFRS adoption by countries. PricewaterhouseCoopers LLP. SEC. (2008). Roadmap for the potential use of financial statements prepared in accordance with international financial reporting standards by U.S. issuers. U.S. Securities and exchange commission. SEC. (2010). Work plan for the consideration of incorporating international financial reporting stan.dards into the financial reporting system for U.S. issuers. U.S. Securities and exchange commission. SEC. (2012). Work plan for the consideration of incorporating international financial reporting standards into the financial reporting system for U.S. issuers, final staff report. U.S. Securities and exchange commission. SEC. (2014). Strategic plan for fiscal years 2014-2018, draft for comment. U.S. Securities and exchange commission. Wahyuni, E. T. (2011). The Accountant Perceptions of The IFRS Convergence Plan In Indonesia. Jurnal Reviu Akuntansi dan Keuangan, 1, 85-96.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfap_dung_ifrs_o_cac_nuoc_va_kinh_nghiem_cho_viet_nam.pdf