Chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi trên thế giới và tai Việt nam trong điều kiện biến đổi khí hậu

Ngành chăn nuôi từ lâu đã là một bộ phận gắn kết chặt chẽ với cây trồng trong kinh tế hộ gia

đình.

• Trại chăn nuôi nhỏ là phổ biến, chăn nuôi công nghiệp còn rất ít, chăn nuôi lợn chiếm

vị trí số 1

• Kết hợp chặt chẽ với cây trồng, nhất là cây lúa

• Không có đồng cỏ rộng, loài nhai lại phát triển thấp

• Lượng nhập khẩu hạt lớn ( ngô và khô đậu tương )

• Nhu cầu sản phẩm động vật tăng nhanh chóng, kích thích chăn nuôi nội địa và cả nhập

khẩu thịt (lượng thịt lợn và gia cầm tăng gấp đôi từ 1995- 2008 )

• Dịch bệnh còn là nguy cơ lớn

• Chăn nuôi xuất khẩu không đáng kể ( trừ thuỷ sản )

Từ các đặc điểm trên ta có thể thấy có những lợi thế và những nhược điểm không thuận

lợi trong phát triển chăn nuôi ở nước ta, đòi hỏi sự cải tiến và cả tái cấu trúc trong điều

kiện biến đổi khí hậu và hội nhập hiện nay.

pdf7 trang | Chia sẻ: tieuaka001 | Lượt xem: 370 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi trên thế giới và tai Việt nam trong điều kiện biến đổi khí hậu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Triển Vọng Phát Triển Chăn Nuôi Việt Nam Hội thảo - Hà Nội – Việt Nam Ngày 29/11/2010 Chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi trên thế giới và tai Việt nam trong điều kiện biến đổi khí hậu T.S Lê Viết Ly Hiệp hội Chăn Nuôi Việt Nam Chăn nuôi đã đóng góp rất nhiều cho phát triển nông nghiệp, mặc dù phần lớn chỉ là phục vụ tiêu dùng trong nước. Là một nước đất chật người đông có tỷ lệ đất trồng trọt trên đầu người thấp, hệ thống trang trại qui mô nhỏ sẽ còn tiếp tục đóng vai trò không nhỏ trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam. I. Một vài đặc điểm của ngành chăn nuôi Việt nam: Ngành chăn nuôi từ lâu đã là một bộ phận gắn kết chặt chẽ với cây trồng trong kinh tế hộ gia đình. • Trại chăn nuôi nhỏ là phổ biến, chăn nuôi công nghiệp còn rất ít, chăn nuôi lợn chiếm vị trí số 1 • Kết hợp chặt chẽ với cây trồng, nhất là cây lúa • Không có đồng cỏ rộng, loài nhai lại phát triển thấp • Lượng nhập khẩu hạt lớn ( ngô và khô đậu tương ) • Nhu cầu sản phẩm động vật tăng nhanh chóng, kích thích chăn nuôi nội địa và cả nhập khẩu thịt (lượng thịt lợn và gia cầm tăng gấp đôi từ 1995- 2008 ) • Dịch bệnh còn là nguy cơ lớn • Chăn nuôi xuất khẩu không đáng kể ( trừ thuỷ sản ) Từ các đặc điểm trên ta có thể thấy có những lợi thế và những nhược điểm không thuận lợi trong phát triển chăn nuôi ở nước ta, đòi hỏi sự cải tiến và cả tái cấu trúc trong điều kiện biến đổi khí hậu và hội nhập hiện nay. II. Vai trò của ngành chăn nuôi trong sản xuất và đời sống xã hội: Đặc điểm nổi bật của nông nghiệp Việt Nam là hệ thống sản xuất kết hợp mà rõ ràng nhất là sự khép kín giữa chăn nuôi và trồng trọt, trong đó trâu bò được sử dụng làm sức cày kéo trong trồng trọt, cũng như nuôi lợn và trồng lúa hỗ trợ lẫn nhau. Ở đồng bằng Sông Hồng,nông dân thường nói, “Lúa đầy bồ, lợn chật chuồng”. Có nghĩa là nếu đầu lợn ăng sẽ có nhiều lúa gạo và ngược lại. Có thể thấy rất lâu rồi, phân chuồng được coi là loại phân có giá trị trong trồng lúa. Mặc dù lợn thực sự là tốn rất nhiều thóc gạo, nhưng trong hệ thống sản xuất nông hộ, sự mâu thuẫn này hình như không nghiêm trọng như ta nghĩ, có lẽ một phần vì người ta đã sử dụng hợp lý các nguồn thức ăn tại chỗ, một phần khác là do năng suất lúa vẫn còn có thể tăng mà chưa đạt đến mức giới hạn. Người ta có thể thấy những lợi thế rõ ràng của chăn nuôi quy mô nhỏ, như sự khép kín với trồng trọt, phù hợp với khả năng đầu tư và trình độ kỹ thuật của nông hộ nhỏ. Nó cũng cho phép sử dụng tốt hơn các giống địa phương có đặc điểm là năng suất thấp nhưng lại thích nghi tốt với điều kiện sinh thái. Trong cộng đồng canh tác quy mô nhỏ, chăn nuôi có thể được coi là phương pháp có hiệu quả nhằm xóa đói giảm nghèo. Qua chăn nuôi, các sản phẩm có giá trị thấp (như ngũ cốc và phụ phẩm của nó) đã trở thành các sản phẩm protein động vật có giá trị cao. Những điểm mạnh: 1. Lợi thế lớn nhất của chăn nuôi nông hộ là sự kết hợp với trồng trọt như vậy nó có thể sử dụng tốt hơn các nguồn thức ăn có sẵn tại địa phương, tạo ra sự quay vòng về năng lượng. 2. Chăn nuôi quy mô nhỏ đòi hỏi đầu tư thấp và là ngành sản xuất đa dạng có thể hạn chế tối đa sự rủi ro. 3. Chăn nuôi có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm cho lao động ở nông thôn, đóng góp lớn lao vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Những điểm yếu: 1. Điểm yếu của chăn nuôi nông hộ phổ biến là phân tán, nhỏ lẻ. Do khối lương sản phẩm không lớn và chất lượng thấp nên khó tiếp cận thị trường. Cần thiết phải có một hình thức tổ chức thích hợp để tập hợp các sản phẩm của từng nông hộ từ đó tiếp cận thị trường. 2. Một điều rõ ràng là khi chăn nuôi nông hộ phân bổ ngay trong khu dân cư thì rất khó kiểm soát dịch bênh cho cả người lẫn gia súc. Cũng rất khó áp dụng các kỹ thuật an toàn sinh học để phòng tránh các bệnh truyền nhiễm (như lở môm long móng, cúm gia cầm, v.v). 3. Ở Việt Nam, chăn nuôi phát triển rất mạnh ở các vùng được gọi là “ làng nghề” (như: nấu rượu, làm bánh, mỳ, miến). Nhưng do chăn nuôi tập trung dầy đặc đã gây ra ô nhiễm môi trường nặng nề, tình trạng này có thể thấy ở rất nhiều nơi có mật độ dân cư cao. 4. Trong điều kiện mới của “khủng hoảng lương thực”, thóc gạo ngày càng quý thì “cái gọi là chăn nuôi truyền thống” có thể tạo ra sự lãng phí về năng lượng do hiệu quả chăn nuôi thấp ( tỷ lệ chuyển hóa thức ăn thấp) Với tất cả những khó khăn hiện tại ở một nước chậm phát triển như Việt Nam, do thiếu đất canh tác và vốn, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và tay nghề thấp của nông dân, chăn nuôi nông hộ nhỏ sẽ tiếp tục tồn tại một thời gian dài nữa. Những trở ngại này cần phải được xem xét nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi và hạn chế bớt những bất lợi của chăn nuôi quy mô nhỏ. Đây là một nhiệm vụ cấp bách của phát triển chăn nuôi bền vững. III. Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp – mục tiêu chung: Nhiều năm qua Việt nam đã và đang tiến hành công cuộc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nhằm khắc phục các yếu kém của nông nghiệp dựa trên sản xuất nhỏ và nâng cao mức sống cho nhân dân thì sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp là nhiệm vụ bắt buộc và cấp bách. Mục tiêu của quá trình này nhằm: - Khuyến khích tạo ra công ăn việc làm ở nông thôn, sử dụng tốt hơn lao động tại chỗ và đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp. - Phục hồi rừng đầu nguồn, nâng cao độ màu mỡ của đất. - Đa dạng hóa sản xuất chăn nuôi và trồng trọt trong hệ thống sinh thái phù hợp nhằm bảo vệ và phục hồi các nguồn gen địa phương quý giá. - Đóng góp vào bảo vệ các nguồn lợi thiên nhiên và môi trường. - Tạo nên các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường ngày càng cao trong nước và quốc tế theo hướng nâng cao hiệu quả, chất lượng và an toàn thực phẩm. Đến nay, hàng loạt các vùng nông phẩm hàng hóa lớn đã được hình thành vững chắc như lúa tại đồng bằng Sông Cửu long và đồng bằng Sông Hồng, hạt tiêu, cà phê tại cao nguyên Trung bộ, cao su tại vùng Đông Nam bộ, rau, quả và hoa tại Đà lạt v.v. Hệ thống nông nghiệp Việt Nam đã đạt được thành tích đáng ghi nhận không chỉ ở lĩnh vực lương thực và cây công nghiệp mà còn ở lĩnh vực chăn nuôi gia súc và thủy sản. Việc áp dụng các kỹ thuật mới trong nông nghiệp đã đóng góp vai trò to lớn trong phát triển nông nghiệp và quản lý các giống cây trồng và giống vật nuôi. Khuyến nông đã phát huy vai trò to lớn trong việc nâng cao trình độ sản xuất của nông dân. Chăn nuôi là bộ phận quan trọng của nông nghiệp nhiệt đới Việt Nam và nó đã có sự đóng góp xứng đáng. IV. Những đặc điểm của chăn nuôi trong chuyển đổi cơ cấu Ngày nay, sự chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi đang diễn ra ở nhiều nơi để thích ứng với kinh tế toàn cầu. Quá trình có thể được nhận ra như sau: „ Thay đổi từ tính địa phương sang hoạt động kinh tế toàn cầu „ Thay đổi từ hoạt động hướng cung sang cầu „ Thay đổi từ đa dụng và phi mậu dịch sang thực phẩm và hàng hóa „ Thay đổi từ nông thôn, dựa vào ruộng đất sang công nghiệp thành thị (Henning Steinfeld - FAO 2002). Từ những đặc điểm này, những nhà sản xuất phải đầu tư vốn để phát triển hệ thống chăn nuôi công nghiệp với năng suất cao, quay vòng nhanh. Vùng chăn nuôi công nghiệp sẽ được tập trung vào một khu nhất định, thuận tiện cho tiếp cận thị trường. Tiếp theo là những dây chuyền sản xuất dài bao gồm các hoạt động đa dạng từ các trang trại đến siêu thị sẽ được hình thành. Mật độ các công ty lớn sẽ bắt đầu chi phối thị trường trong và ngoài nước như đã xảy ra ở các nước đang phát triển khác (Brazil, Thailand, Philippines, và các nước khác) * Đặc điểm chung của chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi • Tăng cường đầu tư sâu ( thức ăn tinh từ thị trường thế giới, nuôi dưỡng chính xác, giống tốt , sạch mầm bệnh • Mở rộng quy mô ( số nhà chăn nuôi giảm, mở rộng quy mô sau thu hoạch, nhà giết mổ, nhà máy sữa • Sự tập trung địa lý cao ( hạ tầng cơ sở ) • Kết hợp dọc, chuỗi thực phẩm dài ra ( các Công ty liên kết, chăn nuôi hợp đồng, siêu thị ) • Công nghệ cao được áp dụng, hiệu quả cao • Thức ăn tinh có ảnh hưởng tolớn đến môi trường ( gián tiếp đối với việc sử dụng đất ) • Thực phẩm sạch, nhưng cùng với đầu tư sâu là vấn đề mới xuất hiện: những bệnh mới! • Trang trại lớn, giảm nhu cầu lao động - mất thu nhập, mất việc làm • Tập trung cao dẫn đến ô nhiễm đất và nước-mối lo của sức khoẻ cộng đồng • Sự kết hợp dọc ( chuỗi ngành hàng ) dài ra ) làm giảm chi phí nhưng mang lại nguy cơ: người chăn nuôi nhỏ bị đẩy ra ngoài * Đặc điểm cách mạng chăn nuôi ở các nước đang phát triển • Tăng nhanh nhu cầu sử dụng sản phẩm động vật ( hàng năm tăng 2,8% cho đến 2020) • Thức ăn vật nuôi chủ yếu là khẩu phần tinh bột • Các nước đang phát triển sẽ sản xuất 63% lượng thịt và 50% sữa trong năm 2020 • Hoạt động sản xuất thực phẩm quốc tế hoá • Thị trường thức ăn vật nuôi trên thế giới chuyển đổi • Tài nguyên bị xuống cấp • Sự hhập khẩu thức ăn hạt tăng nhanh ( 200 MMT hạt cốc năm 2020 ( hơn một nửa làm thức ăn vật nuôi ) • Sản xuất và tiêu thụ tập trung nhanh chóng • Thúc đẩy sự thay đổi nhanh chóng kinh tế ở nông thôn và duyên hải • Thị trường thức ăn càng nóng hơn! Trong điều kiện biến đổi khí hậu, đất trồng giảm dần, việc phụ thuộc vào nhập khẩu một khối lượng lớn thức ăn hạt từ bên ngoài là không bền vững. Khủng hoảng lương thực gần đây đã cảnh tỉnh mọi người, nhất là trong lúc có gần 1 tỷ người đang bị thiếu đói! Quá trình công nghiệp hóa ngành chăn nuôi ở Việt Nam là không thể tránh khỏi, và chăn nuôi truyền thống sẽ giảm dần. Mặc dù vậy, nó sẽ còn tồn tại một thời gian dài nữa ở những khu vực xa thành phố và sản phẩm của nó có thể cung cấp cho thị trường địa phương và trong các cộng đồng tự cung tự cấp. V. Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 ở Việt Nam Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt ngày 16 tháng 01 năm 2008 bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây: * Quan điểm phát triển: 1. Phát triển chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hoá, từng bước đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. 2. Tổ chức lại ngành chăn nuôi theo hướng gắn sản xuất với thị trường, bảo đảm an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và cải thiện điều kiện an sinh xã hội, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an toàn thực phẩm. 3. Tập trung phát triển chăn nuôi có lợi thế và khả năng cạnh tranh như lợn, gia cầm, bò; đồng thời phát triển sản phẩm chăn nuôi đặc sản của vùng, địa phương. 4. Khuyến khích các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, công nghiệp; đồng thời hỗ trợ, tạo điều kiện hộ chăn nuôi theo phương thức truyền thống chuyển dần sang phương thức chăn nuôi trang trại, công nghiệp. * Mục tiêu phát triển chung: a/ Đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất phương thức trang trại, công nghiệp, đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm đảm bảo chất lượng cho tiêu dùng và xuất khẩu. b/ Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt trên 42%, trong đó năm 2010 đạt khoảng 32% và năm 2015 đạt 38%. c/ Đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh, an toàn thực phẩm, không chế các bệnh nguy hiểm trong chăn nuôi. d/ Các cơ sở chăn nuôi, nhất là chăn nuôi theo phương thức trang trại, công nghiệp và cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm phải có hệ thống xử lý chất thải, bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường. VI. Những trở ngại trong chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi *Chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế của nông hộ nhỏ ( chiếm 70% dân số ) • Thiếu nguồn đầu tư và hỗ trợ tài chính • Thiếu quy họach vùng chăn nuôi cũng như chính sách dành đất cho chăn nuôi • Một khối lượng hạt cốc phải nhập khẩu làm thức ăn chăn nuôi, trong khi giá mua ngày càng cao • Nhân lực lành nghề thiếu • Ô nhiễm môi trường do thiếu đầu tư *Tương lai người chăn nuôi nhỏ • Vẫn có thị trường cho chăn nuôi hộ nhỏ do đặc thù địa lý và thói quen tiêu dùng • Cải tiến năng suất và chất lượng ( nâng cao kiến thức và tay nghề qua huấn luyện, phổ cập các công nghệ như văc xin, cải tiến thức ăn • Cải thiện khả năng tiếp cận thị trường ( chăn nuôi hợp đồng, các hình thức HTX, phát triển đường sá, chợ) • Các chính sách thích hợp hỗ trợ người nghèo bởi phần lớn là nông trại nhỏ, yếu thế cạnh tranh. Mối quan tâm đầu tiên: công ăn việc làm cho nông dân ( bảo đảm tài sản: đất đai và các phương tiện ngành nghề ) * Cơ hội giảm nghèo và đa dạng hoá thu nhập • Các nghiên cứu về chăn nuôi ở các nước đang phát triển chỉ rõ thu nhập của nông dân nghèo ở nông thôn về chăn nuôi chiếm một tỉ lệ lớn • Sự phát triển chăn nuôi VN vẫn có các lợi thế dựa trên thói quen tiêu dùngcủa người Việt ( mua dùng thịt nóng, thích ăn thịt chắc từ chăn nuôi hữu cơ, gà vườn, giống địa phương ), chấp nhận giá cao hơn • Thị trường méo mó có lợi cho nhà chăn nuôi lớn ( được hỗ trợ đàu tư ) không có lợi cho hộ nhỏ. • Kinh nghiệm từ các nước ĐNÁ cho thấy mỗi đơn vị sản phẩm làm ra từ các hộ chăn nuôi nhỏ có lợi nhuận cao hơn trại CN lớn • Các hộ chăn nuôi nhỏ vẫn có cơ hội tham gia vào chuỗi ngành hàng, hợp tác với các nhà chế biến và đầu tư ( để mở rộng quy mô sản xuất ) • Cải tiến chính sách và thể chế là cần thiết để hỗ trợ người nông dân tiếp cận thị trường VII. Một số ý kiến thảo luận: 1. Như đã đề cập ở trên, thành tựu của phát triển nông nghiệp là có ý nghĩa trong thập kỷ qua. Việc cải tiến công nghệ và các chính sách mở của là những yếu tố quyết định. Trong buổi đầu phát triển, những chính sách phù hợp trong nông nghiệp là một yếu tố lớn nhằm huy động nhiệt tình của nông dân. Nó tạo ra một cuộc cách mạng về nông nghiệp ở Việt Nam, làm thay đổi từ một đất nước nhập khẩu lương thực trở thành một nước xuất khẩu lương thực. 2. Hệ thống khép kín giữa trồng trọt và chăn nuôi là một thuận lợi đáng kể của hệ thống canh tác. Nó phải được cải tiến với điều kiện mới để đạt được hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững. 3. Dường như chưa có những thành tựu nào về xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi do nhu cầu trong nước rất lớn và được giá. Sản xuất protein động vật để xuất khẩu ở Việt Nam không mang lại lợi nhuận về mặt hiệu quả kinh tế và khía cạnh sinh thái. 4. Có thể thấy còn rất nhiều khó khăn trong chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi từ quy mô nhỏ sang quy mô lớn hơn, từ hệ thống chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi công nghiệp. Cần phải nhấn mạnh rằng trong quá trình chuyển đổi chúng ta phải chú ý tới sinh kế của các nông hộ nhỏ để giữ ổn định xã hội-cơ sở cho phát triển, bởi vì thay đổi cơ cấu chăn nuôi là liên quan mật thiết đến phân bổ lại ruộng đất, với tạo công ăn việc làm ở vùng nông thôn. 5. Đối với một nước nghèo và đông dân như Việt Nam, chuyển đổi nông nghiệp mang lại một thách thức lớn. Có những hạn chế về vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phòng chống dịch bệnh, và bảo vệ môi trường. Ngay cả khi phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, việc khai thác lợi thế của chăn nuôi truyền thống với các giống thích hợp thích nghi với điều kiện sinh thái và kinh tế và phù hợp với thị trường trong nước cũng vẫn phải coi trọng. 6. Cần thiết phải tìm kiếm các công nghệ hiệu quả và chính sách phù hợp từng bước giảm số lượng các trang trại nhỏ trong khu vực đông dân cư, nơi có nhiều rủi ro đối với an toàn sinh học và vệ sinh môi trường. Phát triển các hình thức hợp tác xã chăn nuôi để giúp nông dân cải tiến sản phẩm và đầu ra. Nhiều hình thức chăn nuôi “trang trại khoán” thích hợp với các nhà sản xuất nhỏ, có thể có ích trong việc giúp đỡ nông hộ tiếp cận thị trường sinh lời. Tài liệu tham khảo: 1. Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 – Cục Chăn nuôi, Bộ NN và PTNT, Hà nội, 2007 2. Hệ thống khoán chăn nuôi lợn nông hộ nhỏ theo hướng thị trường có lời ở miền Bắc Việt Nam. Báo cáo của dự án ILRI-HAU-IFPRI-FAO PPLPI, 2008 3. Phát triển chăn nuôi nông hộ nhỏ. Tài liệu của hội thảo CASREN, Bộ NN và PTNT, Hà nội, 2004. 4. Thời đại thay đổi quản lý chăn nuôi: Cơ hội và thách thức cho các nông trại nhỏ, Christopher Delgado, 2004. 5. Towards a pro-Poor policy Agenda in the SEA Region. Proj. doc. of the FAO PPLPI Achilles Costales, MARD-ILRI Livestock Policy Workshop, Hanoi 23-24 JULY, 2004 6. Phát triển chăn nuôi trong quá trình chuyển đổi c¬ cÊu n«ng nghiệp. Lê Viết Ly, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà nội, 2007

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfle_viet_ly_vn_text_9379.pdf
Tài liệu liên quan