Doanh nghiệp Việt Nam với việc vận dụng IFRS để lập Báo cáo tài chính

Nhằm nâng cao hiệu quả công cụ quản lý kinh tế. Chính phủ đã phê duyệt và ban hành

một chiến lược cho sự phát triển kế toán – kiểm toán (KT-KT) đến năm 2020, tầm nhìn

2030 của Việt Nam. Với mục tiêu: Tạo lập hệ thống KT - KT hoàn chỉnh; Xây dựng hệ

thống khuôn khổ pháp lý KT- KT phù hợp với thông lệ quốc tế; Tăng cường quan hệ hợp

tác và thừa nhận lẫn nhau trong lĩnh vực KT - KT với các tổ chức quốc tế về KT- KT

trong khu vực và thế giới. Việc hướng các doanh nghiệp (DN) Việt Nam áp dụng Chuẩn

mực BCTC quốc tế (IFRS) cho việc lập báo cáo tài chính (BCTC) cũng không nằm ngoài

những mục tiêu trên. Đây chính là tiền đề và động lực quan trọng để nâng tầm hoạt động

KT- KT nói riêng và góp phần nâng cao hiệu quả, minh bạch hóa nền kinh tế nước nhà

nói chung. Bài viết chỉ đề cập một số vấn đề sau đây: (1) Tầm quan trọng của việc áp dụng

IFRS cho việc lập BCTC; (2) Kinh nghiệm quốc tế áp dụng IFRS; (3) Thực trạng cơ sở

pháp lý cho việc lập BCTC ở Việt Nam hiện nay; (4) Những lợi ích và thách thức khi áp

dụng IFRS; (5) Kết luận.

pdf6 trang | Chia sẻ: Thục Anh | Ngày: 24/05/2022 | Lượt xem: 194 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Doanh nghiệp Việt Nam với việc vận dụng IFRS để lập Báo cáo tài chính, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n trÞ - Kinh nghiÖm quèc tÕ vµ thùc tr¹ng ë ViÖt Nam 157 DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VỚI VIỆC VẬN DỤNG IFRS ĐỂ LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH #PGS.TS Mai Thị Hoàng Minh - TS.Trần Ngọc Hùng - NCS Ths. Bùi Quang Hùng Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh Nhằm nâng cao hiệu quả công cụ quản lý kinh tế. Chính phủ đã phê duyệt và ban hành một chiến lược cho sự phát triển kế toán – kiểm toán (KT-KT) đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Việt Nam. Với mục tiêu: Tạo lập hệ thống KT - KT hoàn chỉnh; Xây dựng hệ thống khuôn khổ pháp lý KT- KT phù hợp với thông lệ quốc tế; Tăng cường quan hệ hợp tác và thừa nhận lẫn nhau trong lĩnh vực KT - KT với các tổ chức quốc tế về KT- KT trong khu vực và thế giới. Việc hướng các doanh nghiệp (DN) Việt Nam áp dụng Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) cho việc lập báo cáo tài chính (BCTC) cũng không nằm ngoài những mục tiêu trên. Đây chính là tiền đề và động lực quan trọng để nâng tầm hoạt động KT- KT nói riêng và góp phần nâng cao hiệu quả, minh bạch hóa nền kinh tế nước nhà nói chung. Bài viết chỉ đề cập một số vấn đề sau đây: (1) Tầm quan trọng của việc áp dụng IFRS cho việc lập BCTC; (2) Kinh nghiệm quốc tế áp dụng IFRS; (3) Thực trạng cơ sở pháp lý cho việc lập BCTC ở Việt Nam hiện nay; (4) Những lợi ích và thách thức khi áp dụng IFRS; (5) Kết luận. Tầm quan trọng của việc áp dụng IFRS cho việc lập BCTC Trong bối cảnh kinh tế đang toàn cầu hóa như hiện nay, việc tìm ra một ngôn ngữ chung cho các DN trong việc lập và trình bày BCTC là hết sức cấp thiết. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa các quốc gia trong việc lập và trình bày BCTC. Sự khác biệt này, đã tạo ra rất nhiều khó khăn cho người sử dụng trong việc đánh giá chất lượng BCTC ở một quốc gia khác cũng như khi so sánh các Báo cáo trên toàn cầu. Trước đây, trong giai đoạn những năm 1970 hầu hết các công ty trên thế giới có xu hướng theo US GAAP của Hoa Kỳ, do đây là quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển nhất thế giới. Nhưng hiện nay US GAAP không còn là xu hướng nữa vì các quốc gia phát triển đã dần dần tìm được tiếng nói chung thông qua IFRS. Nguyên nhân dẫn đến điều này là US GAAP quá phức tạp và dựa quá nhiều vào các quy định cụ thể, thay vì các nguyên tắc chung, và không được chấp thuận ở một số quốc gia bởi lý do chính trị. Bên cạnh đó, cho đến trước 2007, việc sử dụng các BCTC mang tính địa phương rồi sau đó chuyển đổi sang chuẩn GAAP vẫn còn rất phổ biến. Việc làm này tốn kém nhiều thời gian và cả chi phí cho đến khi IFRS được ban hành với mục tiêu cốt lõi là giúp các DN trên toàn cầu có thể tuân theo một chuẩn chung chấp nhận được khi lập BCTC. Việc nâng cao chất lượng thông tin KT-KT ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới là rất cấp thiết. Chiến lược KT- KT đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được đặt ra trong bối cảnh trên, hướng đến tạo lập hệ thống KT- KT Việt Nam đáp ứng được yêu cầu quản lý của nền kinh tế n trÞ - Kinh nghiÖm quèc tÕ vµ thùc tr¹ng ë ViÖt Nam 158 thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, dần hoàn thiện phù hợp với thông lệ quốc tế. Phấn đấu đến 2030, Việt Nam có một hệ thống KT-KT thực sự của kinh tế thị trường, tương đồng với thông lệ quốc tế. Đồng thời, khi áp dụng IFRS sẽ đóng góp giá trị lớn đối với tính bền vững của nền kinh tế toàn cầu, vì IFRS gia tăng sự minh bạch, đồng thời giúp nâng cao trách nhiệm giải trình của DN, từ đó giảm bớt độ chênh lệch thông tin giữa nội bộ và bên ngoài DN. Ngoài ra, IFRS giúp các DN và thị trường hoạt động hiệu quả hơn nhờ có một chuẩn mực thống nhất trên phạm vi toàn cầu và đáng tin cậy, áp dụng cho cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển. Kinh nghiệm quốc tế áp dụng IFRS Thống kê của IASB cho thấy tính đến tháng 4/2016 đã có khoảng trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổ đã và đang trên lộ trình áp dụng IFRS. Theo dữ liệu mà IASB cung cấp (bảng 1), hầu hết các quốc gia có thị trường chứng khoán hàng đầu thế giới đều đã thực hiện theo IFRS. Gần như toàn bộ các quốc gia Châu Âu đều đã áp dụng IFRS, kể cả Nga. Tại Đông Nam Á, chỉ có Lào, Đông Timor và Việt Nam là chưa áp dụng, thậm chí những nền kinh tế kém phát triển hơn Việt Nam rất nhiều như Myanmar và Cambodia đều đã áp dụng IFRS trong thời gian qua và được IASB công nhận. Tương tự, những nền kinh tế đang phát triển như ở Châu Phi, chẳng hạn Kennya, Sierra Leone, đặc biệt là quốc gia có tỉ lệ lạm phát cao nhất thế giới Zimbabwe cũng đã bước đầu áp dụng IFRS. Ở châu Mỹ, ngay cả quốc gia có hệ thống chuẩn mực riêng rất đặc thù như Hoa Kỳ cũng đã có thỏa thuận với IASB về việc bước đầu áp dụng IFRS từ 2014. Hay như các đối tác lớn của quốc gia này như: Canada và Mexico cũng đã dần dần từ bỏ chuẩn mực kế toán riêng của mình để áp dụng IFRS. Cụ thể, tại Canada và Mexico, các công ty niêm yết và các công ty đa quốc gia đã chuyển sang IFRS lần lượt từ đầu năm 2011 và 2012. Bảng 1: Các quốc gia tiêu biểu đã áp dụng IFRS Châu Á Châu Mỹ Châu Âu Đông Nam Á Phần còn lại Bắc Mỹ Phần còn lại Châu Phi Albania Brunei Bahrain Canada Argentina Botswana Austria Cambodia Bangladesh USA Bahamas Egypt Bulgaria Indonesia Bhutan Bolivia Kennya Cyprus Malaysia China Brazil Ghana Czech Myanmar Hong Kong Chile Rwanda Denmark Thailand India Colombia Sierra Leone France Singapore Iraq Costa Rica South Africa Germany Israel El Salvador Suriname Italy Japan Honduras Uganda Russia Korea Mexico Zimbabwe Nguồn: tổng hợp của tác giả từ website IFRS.org n trÞ - Kinh nghiÖm quèc tÕ vµ thùc tr¹ng ë ViÖt Nam 159 Theo Ủy ban chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASB), với trên 10 năm gần đây, việc áp dụng các IFRS đã phát triển nhanh chóng và được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới. Trong số 140 quốc gia được IASB khảo sát, có 116 nước yêu cầu toàn bộ hoặc hầu hết những DN nội địa áp dụng IFRS. Đa số những quốc gia còn lại cho phép áp dụng IFRS. Tất cả các tổ chức có tác động quan trọng đến nền kinh tế thế giới như G20, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Hội đồng ổn định tài chính quốc tế (FSB), Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán (IOSCO) đều ủng hộ và hỗ trợ việc áp dụng IFRS trên toàn cầu. Thực trạng cơ sở pháp lý và việc lập BCTC ở Việt Nam hiện nay Khuôn khổ pháp lý đó là Luật Kế toán và Luật Kiểm toán độc lập. Cả hai luật này đều bao gồm các quy định cụ thể chỉ có trong các quy chế hướng dẫn đi kèm, như chế độ kế toán; các chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán. Luật Kế toán yêu cầu các DN tuân thủ áp dụng một hệ thống kế toán thống nhất, song song đó là các cơ chế về kiểm tra, giám sát của công chúng hỗ trợ cho các yêu cầu về BCTC DN đối với thị trường tài chính và thị trường vốn; Các khuôn khổ chính sách cho quá trình hiện đại hóa việc đào tạo kế toán ở các trường đại học; Các tổ chức nghề nghiệp kế toán cung cấp các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn liên tục. Có thể nói, với quy định áp dụng thống nhất một hệ thống kế toán chỉ có thể phù hợp với các DN trong hệ thống ngân sách Nhà nước. Do đó, không nhất thiết yêu cầu các công ty đại chúng hay DN tư nhân phải áp dụng thống nhất điều này sẽ dẩn đến thiếu linh hoạt. Về chuẩn mực kế toán: Hiện tại Việt Nam vẫn ưu tiên áp dụng các quyết định, hướng dẫn trước VAS nghĩa là đang tồn tại sự thiếu nhất quán trong cơ sở pháp lý để xây dựng BCTC. Điều này làm ảnh hưởng đến tính tin cậy và khả năng so sánh của các thông tin tài chính được trình bày trong BCTC theo VAS. Đồng thời, DN lập BCTC cũng DN kiểm toán phải chịu áp lực tuân thủ rất lớn. Điều này làm ảnh hưởng đến tính tin cậy và khả năng so sánh của các thông tin tài chính được trình bày trong BCTC theo VAS. Hiện nay, phần lớn DN đang áp dụng các chuẩn mực Việt Nam (VAS) trong việc lập BCTC theo luật định. Gần đây, Việt Nam cũng đã cho phép (không bắt buộc) các công ty niêm yết trên thị truờng chứng khoán của họ sử dụng IFRS khi lập và trình bày BCTC theo giá thị trường. Như vậy, thực chất chỉ một số DN lập BCTC theo IFRS nếu có vốn đầu tư nước ngoài hoặc niêm yết trên thị trường quốc tế. Với thực tế là tất cả các DN đều phải lập BCTC với các yêu cầu về kiểm toán và công khai dành riêng cho từng loại hình DN. Cách tiếp cận này chưa thật sự phù hợp, các loại hình báo cáo khác nhau chưa phân định rõ giữa BCTC và các yêu cầu về kiểm toán theo quy định đối với các công ty đại chúng, các DN tư nhân lớn và các DN nhỏ. Theo đánh giá từ tổ chức nghề nghiệp thì thực trạng về yêu cầu và nhận thức về chất lượng của BCTC DN tại Việt Nam hiện còn thấp. Nguyên nhân chủ yếu là do những yếu kém trong quản trị DN và thực tế là đa phần các đối tượng tham gia thị trường là nhà đầu tư cá nhân cũng như sự thiếu minh bạch, đặc biệt trong khu vực DNNN, đã khiến việc tiếp cận của công chúng đối với các BCTC được kiểm toán rất hạn chế. Người sử dụng thường cho rằng các BCTC được các hãng kiểm toán lớn là thành viên của mạng lưới quốc tế kiểm toán thì có n trÞ - Kinh nghiÖm quèc tÕ vµ thùc tr¹ng ë ViÖt Nam 160 tiêu chuẩn BCTC cao hơn. Trong khi đó, phần lớn BCTC của các công ty niêm yết và DNNN được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán trong nước. Những lợi ích và thách thức khi áp dụng IFRS Với chiến lược cho sự phát triển KT- KT đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Việt Nam thì việc áp dụng IFRS sẽ giúp Việt Nam đi đúng hướng các chính sách của ASEAN cũng như theo kịp đà phát triển của những nền kinh tế thành công khác trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam hội nhập kinh tế sâu rộng trên thị trường phẳng toàn cầu với việc tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Thông qua áp dụng IFRS, nền kinh tế Việt Nam nói chung và các DN Việt Nam nói riêng sẽ được hưởng lợi từ hội nhập kinh tế, ví dụ như tiếp cận nguồn vốn, duy trì năng lực cạnh tranh và phát triển một cách bền vững, phát triển đội ngũ nhân sự kiểm toán... Ở khía cạnh tác động tích cực của triển khai rộng rãi IFRS đến sự phát triển của thị trường tài chính, kinh nghiệm triển khai IFRS ở nhiều quốc gia cho thấy, sau khi áp dụng IFRS, thì mức độ tin cậy về thông tin của các công ty niêm yết, cũng như thị trường tài chính nói chung, thị trường chứng khoán nói riêng ở các nước đó được giới đầu tư nước ngoài đánh giá cao. Điều này không chỉ giúp các thị trường này cải thiện khả năng thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, mà còn giúp cho nền kinh tế và DN của các nước này giảm đáng kể chi phí phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn, do định mức tín nhiệm tăng cao. Kể từ khi các nước này áp dụng IFRS thì không còn mối ngờ này, vì cùng với thông tin minh bạch hơn, trách nhiệm giải trình của DN rõ ràng hơn. IFRS được ví như “ngôn ngữ tài chính toàn cầu” giúp đảm bảo tính so sánh, thống nhất và minh bạch, sẽ “chắp thêm cánh” cho DN tận dụng cơ hội tiếp cận nguồn vốn quốc tế, đồng thời giúp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam. Khi hiểu biết về IFRS sẽ giúp DN có những thông tin hữu ích về các DN khác trong cùng ngành, có mức độ hoạt động tương đương ở các nước khác; Riêng đối với DN FDI mà công ty mẹ sử dụng IFRS thì việc biết và áp dụng IFRS là một yêu cầu bắt buộc để nhằm phục vụ cho việc hợp nhất báo cáo ở công ty mẹ. Việc áp dụng IFRS giúp tăng cường khả năng so sánh và tính minh bạch của hoạt động BCTC. Các BCTC có liên quan, có thể so sánh và phản ánh trung thực tình hình tài chính của tổ chức là điều mà các nhà đầu tư đang tìm kiếm trong việc đưa ra quyết định đầu tư của mình. IFRS giúp đảm bảo tính thống nhất toàn cầu của chuẩn mực BCTC áp dụng cho các tổ chức trên các khu vực pháp lý khác nhau. Các BCTC lập theo IFRS được chấp nhận rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới. Các yếu tố này là điều kiện tiên quyết để Việt nam tiếp cận thị trường vốn quốc tế. Thông qua áp dụng IFRS, các công ty ở Việt Nam sẽ có thể được hưởng lợi từ hội nhập kinh tế ví dụ như tiếp cận nguồn vốn, duy trì năng lực cạnh tranh và phát triển một cách bền vững. Điều này củng cố sự ổn định của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, thách thức đầu tiên là xây dựng một đội ngũ nhân viên tài chính kế toán có năng lực. Đây không phải là một công việc dễ dàng vì IFRS được xem là rất phức tạp, ngay cả ở những nền kinh tế phát triển. Các chuyên gia tài chính Việt Nam sẽ gặp nhiều khái niệm mới và các phương pháp hạch toán mới chưa quen áp dụng. n trÞ - Kinh nghiÖm quèc tÕ vµ thùc tr¹ng ë ViÖt Nam 161 Thay vào đó, phương pháp hạch toán các giao dịch theo IFRS dựa trên bản chất của giao dịch, do đó yêu cầu phải có xét đoán và đánh giá mang tính phân tích của cán bộ quản lý, những người sẽ tham vấn nhân viên kế toán của mình. Các DN cần thiết lập hệ thống và qui trình để đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực kế toán áp dụng. Việc quản lý công tác BCTC, trong đó có yêu cầu tuân thủ và kiểm toán nội bộ, cần được tăng cường nhằm đảm bảo tính trung thực của BCTC. Gần đây sau bao nhiêu lần lỗi hẹn, Bộ Tài chính đã mạnh dạn bước đầu triển khai việc đào tạo các chuyên gia kế toán với định hướng vận dụng các IFRS cho các DN Việt Nam thời gian sắp tới. Rõ rang, việc áp dụng chung một chuẩn mực sẽ giúp cho các DN nói chung và Việt Nam nói riêng nâng cao tính minh bạch không chỉ trong các DN mà còn trong các cơ quan ban ngành Chính phủ. Điều này, sẽ giúp cho việc nâng cao hạng mức tín nhiệm của Việt Nam nói chung trong mắt bạn bè quốc tế, bên cạnh đó còn giúp cho các DN Việt Nam tiếp xúc với các nguồn tín dụng quốc tế như ADB, World Bank dễ dàng hơn. Đặc biệt, đối với các loại báo cáo hợp nhất áp dụng cho các công ty đa quốc gia với công ty con là DN Việt Nam, việc hoà hợp IFRS giúp cho việc hội nhập càng trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn bao giờ hết. Khi tiến hành giao thương, các DN Việt Nam dùng chung một ngôn ngữ chuẩn về kế toán với các DN trên thế giới sẽ mang lại nhiều thuận lợi hơn trong công tác hạch toán ghi nhận các nghiệp vụ. Trong quá trình hội nhập toàn diện với quốc tế, các DN Việt Nam phải tuân thủ các luật chơi mới đầy thách thức và khó khăn. Và một trong những thách thức DN phải đối diện hiện nay là xu hướng vận dụng IFRS trong việc lập BCTC. Tuy nhiên trong thực tế để vận dụng được IFRS là cả một quá trình gian khó đòi hỏi sự nỗ lực từ nhiều phía. Khó khăn thách thức đầu tiên phải đề cập đến là sự thiếu hụt về nguồn nhân lực. Với rào cản ngôn ngữ là tiếng Anh và các thuật ngữ khó hiểu mang tính học thuật, ước lệ của từ vựng chuyên ngành kế toán gây không ít khó khăn cho người dạy lẫn người học. Ngoài ra, với đặc thù ngành kế toán ít nhiều đòi hỏi người dịch, chuyển tải nội dung các chuẩn mực kế toán cần phải có trải nghiệm kiến thức thực tế. Từ đó dẫn đến hiện tượng là cho đến nay chỉ có một vài trường đại học lớn trong cả nước là đã mạnh dạn triển khai dạy các khoá về kế toán quốc tế theo nội dung của IFRS Điều này dẫn đến việc ngay chính bản thân Bộ Tài chính cũng cảm thấy quan ngại khi đưa ra yêu cầu hội nhập với một thời hạn ấn định vận dung IFRS cụ thể do sợ thiếu hụt lực lượng lao động đáp ứng đủ tiêu chuẩn công tác tại các cơ quan thuế. Thách thức thứ hai là vấn đề thiếu hụt các tổ chức định chế uy tín trong việc đánh giá giá trị các loại tài sản, do đó vận dụng các khái niệm về giá trị hợp lý (fair value) sẽ gặp nhiều khó khăn trong khâu định giá theo giá trị thị trường. Thách thức thứ ba là những khác biệt về luật cũng như góc nhìn về một số tài sản đặc thù, mà cụ thể là đất đai. Do đến nay Việt Nam vẫn mới chỉ công nhận quyền sử dụng đất chứ chưa công nhận đất đai như là một loại tài sản, nên việc vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế ít nhiều còn khoảng cách. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn thách thức nêu trên thì Việt Nam cũng có nhiều thuận lợi khi vận dụng các IFRS. Đầu tiên, phải kể đến việc thừa kế những thay đổi cập nhật mới nhất của hệ thống các chuẩn mực qua quá trình vận dụng thực tế lâu dài trên thế giới. Từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho các DN Việt Nam trong quá trình vận dụng IFRS vào thực tiễn. Thuận lợi phải kể đến tiếp theo chính là làn sóng mua bán và sát nhập n trÞ - Kinh nghiÖm quèc tÕ vµ thùc tr¹ng ë ViÖt Nam 162 (M&A) nổi lên rầm rộ những năm gần đây. Bên cạnh tiếp thu được nguồn vốn ngoại từ bên ngoài, các DN Việt Nam cũng đồng thời tiếp thu được các kiến thức, kỹ thuật kế toán mới từ các chuyên gia đến từ công ty mẹ, nơi mà việc trang bị các kiến thức về chuẩn mực kế toán IFRS đã trở thành bắt buộc. Ngoài ra, chính sự dễ dàng và thuận lợi trong việc di chuyển trong khối cộng đồng chung ASEAN gần đây cũng tạo điều kiện cho một lực lượng lao động quốc tế được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên nghiệp du nhập vào Việt Nam, tham gia ngày càng đông vào lực lượng lao động nói chung và các chuyên gia tài chính, kế toán nói riêng. Bản thân xét về nội lực thì Việt Nam cũng là một quốc gia với lực lượng lao động đang ở độ tuổi vàng thuận lợi cho việc học tập và nâng cao kiến thức không ngừng. Và cuối cùng hiện nay Việt Nam ngày càng có nhiều sự hiện diện của các tổ chức hiệp hội kế toán chuyên nghiệp như ACCA, CIMA Chính điều này tạo nên sự thuận lợi trong việc cập nhật kiến thức cũng như hệ thống bằng cấp, chứng chỉ chuyên nghiệp quốc tế và từ đó tạo nên động lực để nguồn nhân lực kế toán Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu trong nghề nghiệp. Kết luận IFRS chính thức áp dụng trên toàn thế giới từ 1/1/2015 và đến nay đã có trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng. Cũng còn nhiều vấn đề tranh luận gay gắt, thậm chí còn nhiều bất đồng liên quan đến một số nội dung cụ thể. Ví dụ như các quy định về công cụ tài chính, tổn thất tài sản, trình bày kế toán nhưng không thể phủ nhận được lợi ích to lớn mà IFRS mang lại. Dưới các góc nhìn khác nhau, từ phía cơ quan quản lý và người hành nghề, thì áp dụng IFRS đem lại nhiều lợi ích trong đó có lợi ích to lớn về tăng tính minh bạch và tính có thể so sánh, và tăng hiệu quả thị trường, giảm chi phí vốn và tăng tính cạnh tranh của DN. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, việc áp dụng IFRS là rất cần thiết. Việc ban hành khung pháp lý đầy đủ về kế toán phù hợp với thông lệ phổ biến của quốc tế là vô cùng quan trọng. Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm 10 năm áp dụng IFRS từ 2005 đến 2015 của các quốc gia trên thế giới, thì Việt Nam đang sẽ có những bước đi vững chắc hơn trong việc áp dụng IFRS.‡ ----------------------- Tài liệu tham khảo 1. Daske, H., Hail, L., Leuz, C. & Verdi, S. (2008). Mandatory IFRS Reporting Around the World: Early Evidence on the Economic Consequences. Journal of Accounting Research, 46 (5): 1085-42. 2. Li, S. (2010). Does Mandatory Adoption of International Financial Reporting Standards in the European Union Reduce the Cost of Equity Capital. The Accounting Review. 85 (2): 607-36. 3. Trần Mạnh Dũng (2009). Chuẩn mực lập BCTC quốc tế (IFRS). Tạp chí Kinh tế & Phát triển. Tháng 11; pp. 69-74. 4. Trần Mạnh Dũng, Đào Mạnh Huy & Nguyễn Thị Thanh Diệp (2011). Kinh nghiệm lần đầu tiên áp dụng chuẩn mực lập BCTC quốc tế (IFRS). Tạp chí Kinh tế & Phát triển. Số 165 (II). Tháng 3. pp. 95-97.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfdoanh_nghiep_viet_nam_voi_viec_van_dung_ifrs_de_lap_bao_cao.pdf