Luận văn Thiết kế hệ thống cấp nước thị xã Châu Đốc – tỉnh An Giang công suất 20.000 m3/ngày

Thị xã Châu Đốc đã được hình thành từ khá sớm (1932), hiện tại là đô thị thứ hai của tỉnh An Giang, sau thành phố tỉnh lỵ Long Xuyên. Sự phát triển nhanh kinh tế – xã hội của thị xã trong những năm gần đây, đã làm cho nhu cầu dùng nước của thị xã tăng lên nhanh chóng. Trong khi đó hệ thống cấp nước hiện nay của thị xã, được cải tạo chấp vá qua nhiều đợt, nhưng cũng không đáp ứng đủ cho nhu cầu hiện tại và càng không thể cho tương lai. Trước tình hình đó Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh An Giang đồng ý chủ trương xây dựng hệ thống cấp nước thị xã Châu Đốc theo đề nghị của Công ty Điện Nước An Giang. Việc xây dựng hệ thống cấp nước thị xã Châu Đốc đáp ứng được yêu cầu phát triển đô thị đến năm 2020 theo điều chỉnh quy hoạch chung của thị xã đã được UBND tỉnh phê duyệt.

 

doc110 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 1009 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang nội dung tài liệu Luận văn Thiết kế hệ thống cấp nước thị xã Châu Đốc – tỉnh An Giang công suất 20.000 m3/ngày, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHƯƠNG 1 CHƯƠNG MỞ ĐẦU 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG: Thị xã Châu Đốc đã được hình thành từ khá sớm (1932), hiện tại là đô thị thứ hai của tỉnh An Giang, sau thành phố tỉnh lỵ Long Xuyên. Sự phát triển nhanh kinh tế – xã hội của thị xã trong những năm gần đây, đã làm cho nhu cầu dùng nước của thị xã tăng lên nhanh chóng. Trong khi đó hệ thống cấp nước hiện nay của thị xã, được cải tạo chấp vá qua nhiều đợt, nhưng cũng không đáp ứng đủ cho nhu cầu hiện tại và càng không thể cho tương lai. Trước tình hình đó Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh An Giang đồng ý chủ trương xây dựng hệ thống cấp nước thị xã Châu Đốc theo đề nghị của Công ty Điện Nước An Giang. Việc xây dựng hệ thống cấp nước thị xã Châu Đốc đáp ứng được yêu cầu phát triển đô thị đến năm 2020 theo điều chỉnh quy hoạch chung của thị xã đã được UBND tỉnh phê duyệt. 1.2 MỤC ĐÍCH VÀ NỘI DUNG THIẾT KẾ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP: 1.2.1 Mục đích: Mục tiêu của đồ án là tính toán, lựa chọn phương án tối ưu để thiết kế và xây dựng hệ thống cấp nước nhằm đảm bảo cung cấp nước sạch cho nhu cầu dùng nước đến năm 2020 của thị xã, góp phần cải thiện nâng cao sức khoẻ người dân, hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội của thị xã. Việc đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước là cụ thể hoá mục tiêu đề ra trong “Định hướng phát triển cấp nước đô thị đến năm 2020” của Chính Phủ. Thông qua việc thực hiện dự án sẽ tập huấn, đào tạo được các nhân viên có năng lực cho Xí nghiệp Điện nước Châu Đốc, Công ty Điện nước An Giang nhằm tăng cường khả năng quản lý vận hành hệ thống cấp nước Châu Đốc nói riêng và hệ thống cấp nước khác nói chung trên địa bàn Tỉnh. 1.2.2 Nội dung: Thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho việc thiết kế. Phân tích số liệu để tính toán thiết kế. Xác định nhu cầu dùng nước. Tính toán lưu lượng tổng hợp và lưu lượng nước tiêu thụ theo giờ. Vạch tuyến mạng lưới, xác định vị trí khai thác nước thô, vị trí nhà máy xử lý nước và dây chuyền công nghệ xử lý nước. Tính toán thuỷ lực đường ống và tính toán các công trình xử lý đơn vị. Mạng lưới: Lập sơ đồ tính toán mạng lưới đường ống. Tính toán lưu lượng cho từng đoạn ống. Tính toán thuỷ lực để xác định đường kính ống cần lắp đặt. Công trình thu và trạm bơm cấp 1. Nhà máy xử lý nước: Tính toán công trình đơn vị. Trạm bơm nước sạch. Thực hiện bản vẽ: Công trình thu và trạm bơm cấp 1: Mặt bằng. Chi tiết công trình. Nhà máy xử lý nước: Mặt bằng. Mặt cắt dọc theo nước. Chi tiết các công trình đơn vị. Mạng lưới: Mặt bằng. 1.2.3 Cơ sở tính toán: Điều chỉnh quy hoạch chung thị xã Châu Đốc (thuyết minh và bản vẽ) do Công ty Tư vấn Xây dựng Tổng hợp lập 06/2000 và đã được UBND tỉnh phê duyệt. Các số liệu thống kê về tình hình kinh tế, xã hội của thị xã Châu Đốc do phòng thống kê thị xã Châu Đốc thực hiện. Các tài liệu về hiện trạng hệ thống cấp nước do Xí nghiệp Điện nước Châu Đốc cung cấp. Các số liệu về nguồn nước. Bản đồ địa hình của thị xã tỷ lệ 1/5.000 Các số liệu, tài liệu khảo sát thực địa và các tài liệu khác có liên quan. Các tiêu chuẩn, quy phạm chuyên ngành. CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ NƯỚC CẤP Hiện nay các loại nguồn nước (nước mặt, nước ngầm) có thể khai thác, xử ý để cấp cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất có nguy cơ bị ô nhiễm. Hình 2.1 Chính vì vậy mà việc bảo vệ nguồn nước, đảm bảo có nguồn nước sạch lâu dài bền vững chiếm một vai trò quan trọng đối với đời sống con người và nền kinh tế quốc dân. 2.1 VAI TRÒ CỦA NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI VÀ NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN: Cũng như không khí và ánh sáng, nước không thể thiếu được trong cuộc sống của con người. Trong quá trình hình thành sự sống trên trái đất thì nước và môi trường nước đóng vai trò rất quan trọng. Nước tham gia vào quá trình tái sinh thế giới hữu cơ. Nguồn gốc của sự hình thành và tích luỹ chất hữu cơ sơ sinh là hiện tượng quang hợp được thực hiện dưới tác dụng của năng lượng mặt trời với sự góp phần của nước và không khí. Trong quá trình trao đổi chất, nước có vai trò trung tâm. Những phản ứng lý, hoá học diễn ra với sự tham gia bắt buộc của nước. Nước là dung môi của rất nhiều chất và đóng vai trò dẫn đường cho các muối đi vào cơ thể. Trong các khu dân cư, nước phục vụ cho các mục đích sinh hoạt, nâng cao đời sống tinh thần cho người dân. Một ngôi nhà hiện đại, quy mô lớn nhưng không có nước khác nào cơ thể không có máu. Nước còn đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất, phục vụ cho hàng loạt ngành công nghiệp khác nhau. Đối với cây trồng, nước là nhu cầu thiết yếu đồng thời còn có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất, đó là những nhân tố quan trọng cho sự phát triển của thực vật. Hình 2.2: 2.2 CÁC LOẠI NGUỒN NƯỚC DÙNG ĐỂ CẤP NƯỚC: Để cung cấp nước sạch, có thể khai thác các nguồn nước thiên nhiên (thường gọi là nước thô) từ nước mặt, nước ngầm, nước biển. 2.2.1 Nước mặt: Bao gồm các nguồn nước trong các ao, đầm, hồ chứa, sông, suối. Do kết hợp từ dòng chảy trên bề mặt và thường xuyên tiếp xúc với không khí nên các đặc trưng của nước mặt là: Chứa khí hoà tan đặc biệt là oxy. Chứa nhiều chất rắn lơ lửng, riêng trường hợp nước chứa trong các ao đầm, hồ do xảy ra quá trình lắng cặn nên chất rắn lơ lửng còn lại trong nước có nồng độ tương đối thấp và chủ yếu ở dạng keo. Có hàm lượng chất hữu cơ cao. Có sự hiện diện của nhiều loại tảo. Chứa nhiều vi sinh vật. 2.2.2.Nước ngầm: Được khai thác từ các tầng chứa nước dưới đất, chất lượng nước ngầm phụ thuộc vào thành phần khoáng hoá và cấu trúc địa tầng mà nước thấm qua. Do vậy nước chảy qua các địa tầng chứa cát và granit thường có tính axit và chứa ít chất khoáng. Khi nước ngầm chảy qua địa tầng chứa đá vôi thì nước thường có độ cứng và độ kiềm hydrocacbonat khá cao. Ngoài ra đặc trưng chung của nước ngầm là: Độ đục thấp. Nhiệt độ và thành phần hoá học tương đối ổn định. Không có oxy nhưng có thể chứa nhiều khí như: CO2, H2S, … Chứa nhiều khoáng chất hoà tan chủ yếu là sắt, mangan, canxi, magie, flo, … Không có hiện diện của vi sinh vật. 2.2.3 Nước biển: Nước biển thường có độ mặn rất cao (độ mặn ở Thái Bình Dương là 32 – 35 g/l). Hàm lượng muối trong nước biển thay đổi tuỳ theo vị trí địa lý như: cửa sông, gần bờ hay xa bờ, ngoài ra trong nước biển thường có nhiều chất lơ lửng, càng gần bờ nồng độ càng tăng, chủ yếu là các phiêu sinh động thực vật. 2.2.4 Nước lợ: Ơû cửa sông và các vùng ven bờ biển, nơi gặp nhau của các dòng nước ngọt chảy từ sông ra, các dòng thấm từ đất liền chảy ra hoà trộn với nước biển. Do ảnh hưởng của thuỷ triều, mực nước tại chỗ gặp nhau lúc ở mức nước cao, lúc ở mức nước thấp và do sự hoà trộn giữa nước ngọt và nước biển làm cho độ muối và hàm lượng huyền phù trong nước ở khu vực này luôn thay đổi và có trị số cao hơn tiêu chuẩn cấp nước cho sinh hoạt và thấp hơn nhiều so với nước biển thường gọi là nước lợ. 2.2.5 Nước khoáng: Khai thác từ tầng sâu dưới đất hay từ các suối do phun trào từ lòng đất ra. Nước có chứa một vài nguyên tố ở nồng độ cao hơn nồng độ cho phép đối với nước uống và đặc biệt có tác dụng chữa bệnh. Nước khoáng sau khi qua khâu xử lí thông thường như làm trong, loại bỏ hoặc nạp lại khí CO2 nguyên chất được đóng vào chai để cấp cho người dùng. 2.2.6 Nước chua phèn: Những nơi gần biển, ví dụ như đồng bằng sông Cửu Long ở nước ta thường có nước chua phèn. Nước bị nhiễm phèn là do tiếp xúc với đất phèn, loại đất này giàu nguyên tố lưu huỳnh ở dạng sunfua hay ở dạng sunfat và một vài nguyên tố kim loại như nhôm, sắt. Đất phèn được hình thành do quá trình kiến tạo địa chất. Trước đây ở những vùng này bị ngập nước và có nhiều loại thực vật và động vật tầng đáy phát triển. Do quá trình bồi tụ, thảm thực vật và lớp sinh vật đáy bị vùi lấp và bị phân huỷ yếm khí, tạo ra các axit mùn hữu cơ làm cho nước có vị chua, đồng thời có nhiều nguyên tố kim loại có hàm lượng cao như nhôm, sắt và ion sunfat. 2.2.7 Nước mưa: Nước mưa có thể xem như nước cất tự nhiên nhưng không hoàn toàn tinh khiết bởi vì nước mưa có thể bị ô nhiễm bởi khí, bụi, và thậm chí cả vi khuẩn có trong không khí. Khi rơi xuống, nước mưa tiếp tục bị ô nhiễm do tiếp xúc với các vật thể khác nhau. Hơi nước gặp không khí chứa nhiều khí oxit nitơ hay oxit lưu huỳnh sẽ tạo nên các trận mưa axit. Hệ thống thu gom nước mưa dùng cho mục đích sinh hoạt gồm hệ thống mái, máng thu gom dẫn về bể chứa. Nước mưa có thể dự trữ trong các bể chứa có mái che để dùng quanh năm. 2.3 CHẤT LƯỢNG NƯỚC NGUỒN: Muốn xử lí một nguồn nước nào đó cần phải phân tích một cách chính xác ba loại chỉ tiêu cơ bản của nguồn nước đó là: chỉ tiêu về lý học, hoá học và vi trùng. 2.3.1 Các chỉ tiêu về lí học: Bao gồm 1) Nhiệt độ (0C): Nhiệt độ của nước có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xử lí nước. Sự thay đổi nhiệt độ của nước phụ thuộc vào từng loại nguồn nước. Nhiệt độ của nguồn nước mặt dao động rất lớn (từ 4 ¸ 400C) phụ thuộc vào thời tiết và độ sâu nguồn nước. Nước ngầm có nhiệt độ tương đối ổn định (từ 17 ¸ 270C). 2) Hàm lượng cặn không tan (mg/l): Được xác định bằng cách lọc một đơn vị thể tích nước nguồn qua giấy lọc, rồi đem sấy khô ở nhiệt độ (105 ¸ 1100C). Hàm lượng cặn của nước ngầm thường nhỏ (30 ¸ 50 mg/l), chủ yếu do các hạt mịn trong nước gây ra. Hàm lượng cặn của nước sông dao động rất lớn (20 ¸ 5.000 mg/l), có khi lên tới (30.000 mg/l). Cùng một nguồn nước, hàm lượng cặn dao động theo mùa, mùa khô nhỏ, mùa lũ lớn. Cặn có trong nước sông là do các hạt sét, cát, bùn bị dòng nước xói rửa mang theo và các chất hữu cơ nguồn gốc động thực vật mục nát hoà tan trong nước. Hàm lượng cặn là một trong những chỉ tiêu cơ bản để chọn biện pháp xử lí đối với các nguồn nước mặt. Hàm lượng cặn của nước nguồn càng cao thì việc xử lí càng tốn kém và phức tạp. 3) Độ màu của nước (tính bằng độ): Được xác định theo phương pháp so sánh với thang màu coban. Độ màu của nước bị gây bởi các hợp chất hữu cơ, các hợp chất keo sắt, nước thải công nghiệp hoặc do sự phát triển của rong, rêu, tảo. Thường nước hồ, ao có độ màu cao. 4) Mùi và vị của nước: Nước có mùi là do trong nước có các chất khí, các muối khoáng hoà tan, các hợp chất hữu cơ và vi trùng, nước thải công nghiệp chảy vào, các hoá chất hoà tan, … Nước có thể có mùi bùn, mùi mốc, mùi tanh, mùi cỏ lá, mùi clo, mùi phenol, … Vị mặn, vị chua, vị chát, vị đắng, … 2.3.2 Các chỉ tiêu về hoá hoc: 1) Hàm lượng cặn toàn phần (mg/l): Bao gồm tất cả các chất vô cơ và hữu cơ có trong nước, không kể các chất khí. Cặn toàn phần được xác định bằng cách đun cho bốc hơi một dung tích nước nguồn nhất định và sấy khô ở nhiệt độ (105 ÷ 1100C) đến khi trọng lượng không đổi. 2) Độ cứng của nước: Là đại lượng biểu thị hàm lượng các muối của canxi và magie có trong nước. Có thể phân biệt thành 3 loại độ cứng: độ cứng tạm thời, độ cứng vĩnh cửu và độ cứng toàn phần. Độ cứng toàn phần biểu thị tổng hàm lượng các muối cacbonat và bicacbonat của canxi và magie có trong nước. Độ cứng toàn phần là tổng của hai loại độ cứng trên. Độ cứng có thể đo bằng độ Đức, kí hiệu là 0dH, 10dH bằng 10 mg CaO hoặc 7,14 mg MgO có trong 1 lít nước, hoặc có thể đo bằng mgđl/l. Trong đó 1 mgđl/l = 2,80dH. Nước có độ cứng cao gây trở ngại cho sinh hoạt và sản xuất: giặt quần áo tốn xà phòng, nấu thức ăn lâu chín, gây đóng cặn nồi hơi, giảm chất lượng sản phẩm, … 3) Độ pH của nước (mgđl/l): Có thể phân biệt thành độ kiềm toàn phần và riêng phần. Độ kiềm toàn phần bao gồm tổng hàm lượng các ion bicacbonat, cacbonat, hydroxit, và anion của các muối của các axit yếu Ktf = . Khi nước thiên nhiên có độ màu lớn ( > 40 độ côban), độ kiềm toàn phần sẽ bao gồm cả độ kiềm do muối của các axit hữu cơ gây ra. Người ta còn phân biệt độ kiềm riêng phần như: độ kiềm bicacbonat hay độ kiềm hyđrat. Độ kiềm của nước có ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ và hiệu quả xử lí nước. Vì thế trong một số trường hợp nước nguồn có độ kiềm thấp, cần thiết phải bổ sung hoá chất để kiềm hoá nước. 4) Độ oxy hoá (mg/l O2 hay KMnO4): Là lượng oxy cần thiết để oxy hoá hết các hợp chất hữu cơ có trong nước. Chỉ tiêu oxy hoá là đại lượng để đánh giá sơ bộ mức độ nhiễm bẩn của nguồn nước. Độ oxy hoá của nguồn nước càng cao, chứng tỏ nước bị nhiễm bẩn và chứa nhiều vi trùng. 5) Hàm lượng sắt (mg/l): Sắt tồn tại trong nước dưới dạng sắt (II) hoặc sắt (III). Trong nước ngầm, sắt thường tồn tại dưới dạng sắt (II) hoà tan của các muối bicacbonat, sunfat, clorua, đôi khi dưới dạng keo của axit humic hoặc keo silic. Khi tiếp xúc với oxy hoặc các chất oxy hoá, sắt (II) bị oxy hoá thành sắt (III) và kết tủa bông cặn Fe(OH)3 có màu nâu đỏ. Nước ngầm thường có hàm lượng sắt cao, đôi khi lên tới 30 mg/l hoặc có thể còn cao hơn nữa. Nước mặt chứa sắt (III) ở dạng keo hữu cơ hoặc cặn huyền phù, thường có hàm lượng không cao và có thể khử sắt kết hợp với công nghệ khử đục. Việc tiến hành khử sắt chủ yếu đối với các nguồn nước ngầm. Khi trong nước có hàm lượng sắt > 0,5 mg/l, nước có mùi tanh khó chịu, làm vàng quần áo khi giặt, làm hư hỏng sản phẩm của ngành dệt, giấy, phim ảnh, đồ hộp và làm giảm tiết diện vận chuyển nước của đường ống. 6) Hàm lượng mangan (mg/l): Mangan thường được gặp trong nước nguồn ở dạng mangan (II), nhưng với hàm lượng nhỏ hơn sắt rất nhiều. Tuy vậy với hàm lượng mangan > 0,05 mg/l đã gây ra các tác hại cho việc sử dụng và vận chuyển nước như sắt. Công nghệ khử mangan thường kết hợp với khử sắt trong nước. 7) Các hợp chất của axit silic (mg/l): Thường gặp trong nước thiên nhiên dưới dạng nitrit (HNO2), nitrat (HNO3) và amoniac (NH3). Các hợp chất chứa nitơ có trong nước chứng tỏ đã bị nhiễm bẩn bởi nước thải sinh hoạt. Khi bị nhiễm bẩn trong nước có cả nitrit, nitrat và cả amoniac. Sau một thời gian, amoniac và nitrit bị oxy hoá thành nitrat. Việc sử dụng loại phân bón nhân tạo cũng làm tăng hàm lượng amoniac trong nước thiên nhiên. 8) Hàm lượng sunfat và clorua (mg/l): Tồn tại trong nước thiên nhiên dưới dạng các muối natri, canxi, magie và axit H2SO4, HCl. Hàm lượng ion có trong nước (> 250 mg/l) làm cho nước có vị mặn. Các nguồn nước ngầm có hàm lượng clorua lên tới 500 ÷ 1000 mg/l có thể gây bệnh thận. Nước có hàm lượng sunfat cao (> 250 mg/l) có tính độc hại cho sức khoẻ con người. Lượng Na2SO4 có trong nước cao có tính xâm thực đối với bêtông và ximăng pooclăng. 9) Iốt và fluo (mg/l): Thường gặp trong nước dưới dạng ion và chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người. Hàm lượng fluo có trong nước ăn uống nhỏ hơn 0,7 mg/l dễ gây bệnh đau răng, lớn hơn 1,5 mg/l sinh hỏng men răng. Ơû những vùng thiếu iốt thường xuất hiện bệnh bứu cổ, ngược lại nếu nhiều iốt quá cũng gây tác hại cho sức khoẻ. 10) Các chất khí hoà tan (mg/l): Các chất khí hoà O2, CO2, H2S trong nước thiên nhiên dao động rất lớn. Khí H2S là sản phẩm của quá trình phân huỷ các chất hữu cơ, phân rác. Khi trong nước có H2S làm nước có mùi trứng thối khó chịu và ăn mòn kim loại. Hàm lượng O2 hoà tan trong nước phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất, đặc tính của nguồn nước. Các nguồn nước mặt thường có hàm lượng oxy hoà tan cao do có bề mặt thoáng tiếp xúc trực tiếp với không khí. Nước ngầm có hàm lượng oxy hoà tan rất thấp hoặc không có, do các phản ứng oxy hoá khử xảy ra trong lòng đất đã tiêu hao hết oxy. Khí CO2 hoà tan đóng vai trò quyết định trong sự ổn định của nước thiên nhiên. Trong kỹ thuật xử lý nước, sự ổn định của nước có vai trò rất quan trọng. Việc đánh giá độ ổn định trong sự ổn định nước được thực hiện bằng cách xác định hàm lượng CO2 cân bằng và CO2 tự do. Lượng CO2 cân bằng là lượng CO2 đúng bằng lượng ion cùng tồn tại trong nước. Nếu trong nước có lượng CO2 hoà tan vượt quá lượng CO2 cân bằng, thì nước mất ổn định và sẽ gây ăn mòn bêtông. 2.3.3 Chỉ tiêu về vi trùng: Trong nước thiên nhiên có rất nhiều loại vi trùng và siêu vi trùng, trong đó có các loại vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm đó là: kiết lị, thương hàn, dịch tả, bại liệt, … Việc xác định sự có mặt của các vi trùng gây bệnh này thường rất khó khăn và mất nhiều thời gian do sự đa dạng về chủng loại. Vì vậy trong thực tế, người ta áp dụng phương pháp xác định chỉ số vi khuẩn đặc trưng, đó là loại vi khuẩn đường ruột côli. Bản thân vi khuẩn côli là vô hại, song sự có mặt của côli chứng tỏ nguồn nước đã bị nhiễm bẩn phân rác và có khả năng tồn tại các loại vi trùng gây bệnh. Số lượng vi khuẩn côli tương ứng với số lượng vi trùng có trong nước. Đặc tính của vi khuẩn côli là có khả năng tồn tại cao hơn các loại vi trùng gây bệnh khác. Do đó sau khi xử lý, nếu trong nước không còn phát hiện thấy côli chứng tỏ các loại vi trùng gây bệnh khác đã bị tiêu diệt. Mặt khác việc xác định vi khuẩn côli đơn giản và nhanh chóng. Nên chúng được chọn làm vi khuẩn đặc trưng để xác định mức độ nhiễm vi trùng gây bệnh trong nước. Theo tiêu chuẩn cấp nước ăn uống sinh hoạt (TCXD – 33 : 1985) chỉ số côli không vượt quá 20 con/lít nước. Ngoài ra trong một số trường hợp, người ta xác định số lượng vi khuẩn kị khí để tham khảo thêm trong việc đánh giá mức độ nhiễm bẩn của nguồn nước. 2.4 CÁC BIỆN PHÁP VÀ DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ XỬ LÍ NƯỚC: 2.4.1 Các biện pháp xử lí cơ bản: Trong quá trình xử lí nước cấp, cần phải thực hiện các biện pháp như sau: Biện pháp cơ học: dùng các công trình và thiết bị làm sạch như: song chắn rác, lưới chắn rác, bể lắng, bể lọc. Biện pháp hoá học: dùng các hoá chất cho vào nước để xử lí nước như: dùng phèn làm chất keo tụ, dùng vôi để kiềm hoá nước, cho Clo vào nước để khử trùng. Biện pháp lí học: dùng các tia vật lí để khử trùng nước như tia tử ngoại, sóng siêu âm. Điện phân nước biển để khử muối. Khử khí CO2 hoà tan trong nước bằng phương pháp làm thoáng. Trong ba biện pháp xử lí nêu ra trên đây thì biện pháp cơ học là biện pháp xử lí nước cơ bản nhất. Có thể dùng biện pháp cơ học để xử lí nước một cách độc lập hoặc kết hợp với các biện pháp hoá học và lý học để rút ngắn thời gian và nâng cao hiệu quả xử lí nước. Trong thực tế để đạt được mục đích xử lí một nguồn nước nào đó một cách kinh tế và hiệu quả nhất phải thực hiện quá trình xử lí bằng việc kết hợp của nhiều phương pháp. Thực ra cách phân chia các biện pháp như trên chỉ là tương đối, nhiều khi bản thân biện pháp xử lí này lại mang cả tính chất của biện pháp xử lí khác. 2.4.2 Dây chuyền công nghệ xử lí nước: Quá trình xử lí nước phải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn thực hiện trong các công trình đơn vị khác nhau. Tập hợp các công trình đơn vị theo trình tự từ đầu đến cuối gọi là dây chuyền công nghệ xử lí nước. Căn cứ vào các chỉ tiêu phân tích của nguồn nước , yêu cầu chất lượng nước sử dụng có thể xây dựng các sơ đồ công nghệ khác nhau: Để xử lí nước mặt có thể dùng các sơ đồ sau: Hình 2.3 Khi nước nguồn có hàm lượng cặn £ 2500 mg/l: Bể phản ứng Bể lắng Chất khử trùng Bể chứa nước sạch Bể lọc nhanh Chất keo tụ Chất kiềm hoá Bể trộn Nơi tiêu thụ Từ trạm bơm cấp 1 tới Sơ đồ 1: Chất khử trùng Bể chứa nước sạch Bể lọc nhanh Bể lắng trong có lớp lơ lửng Chất keo tụ Chất kiềm hoá Bể trộn Nơi tiêu thụ Từ trạm bơm cấp 1 tới Sơ đồ 2: Sơ đồ 3: Chất khử trùng Bể chứa nước sạch Bể lọc tiếp xúc Chất keo tụ Chất kiềm hoá Bể trộn Nơi tiêu thụ Từ trạm bơm cấp 1 tới Khi nước nguồn có hàm lượng cặn > 2500 mg/l, có thể sử dụng các sơ đồ sau: Chất khử trùng Bể phản ứng Bể lắng Chất keo tụ Chất kiềm hoá Bể trộn Từ trạm bơm cấp 1 tới Bể chứa nước sạch Bể lọc nhanh Nơi tiêu thụ Bể lắng sơ bộ Sơ đồ 1: Bể phản ứng Bể lắng Chất keo tụ Chất kiềm hoá Bể trộn Bể chứa nước sạch Bể lọc nhanh Nơi tiêu thụ Từ nguồn tới Hồ sơ lắng Chất khử trùng Trạm bơm Sơ đồ 2: Để xử lí nước ngầm có thể sử dụng các sơ đồ sau: Sơ đồ 1: Chất khử trùng Bể chứa nước sạch Bể lọc nhanh Giàn mưa hay thùng quạt gió Nơi tiêu thụ Bể lắng tiếp xúc Từ trạm bơm giếng tới Sơ đồ 2: Chất khử trùng Bể chứa nước sạch Giàn mưa hay thùng quạt gió Từ trạm bơm giếng tới Nơi tiêu thụ Bể lọc tiếp xúc Chất khử trùng Bể lọc áp lực Ejector thu khí hay máy nén khí Từ trạm bơm giếng tới Nơi tiêu thụ Bầu trộn khí Sơ đồ 3: Bể chứa nước sạch Phun mưa trên mặt bể lọc Từ trạm bơm giếng tới Nơi tiêu thụ Bể lọc nhanh Chất khử trùng Sơ đồ 4: CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI 3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN: 3.1.1 Vị trí địa lý: Thị xã Châu Đốc nằm ở bên bờ sông Hậu, trên tuyến QL91 bắt đầu từ Cần Thơ, qua Long Xuyên – Châu Đốc đến cửa khẩu Tịnh Biên qua CampuChia, cách Thành phố Long Xuyên khoảng 60 km. Ranh giới hành chính của thị xã Châu Đốc như sau: Phía Tây Bắc giáp CampuChia. Phía Tây Nam giáp huyện Tịnh Biên – tỉnh An Giang. Phía Đông Nam giáp huyện Châu Phú – tỉnh An Giang. Phía Đông Bắc giáp huyện Tân Châu, huyện An Phú – tỉnh An Giang . Thị xã Châu Đốc có toạ độ địa lý như sau: Từ 105003’ đến 105012’ Kinh Đông Từ 10037’ đến 10045’ Vĩ Bắc 3.1.2 Khí hậu: Thị xã Châu Đốc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình trong năm : 27,10C. Số giờ nắng trung bình trong năm : 2.200 giờ. Lượng mưa trung bình trong năm : 1.711 mm/năm. Độ ẩm trung bình năm : 81,5%. Gió: Hướng gió thịnh hành, tần suất và tốc độ thay đổi theo từng mùa. Về mùa mưa, hướng gió chủ đạo theo hướng Tây Nam, có tốc độ trung bình khoảng 3,5m/s. về mùa khô, hướng gió chủ đạo theo hướng Đông Bắc, sau đó chuyển dần sang Đông và Đông Nam. 3.1.3 Địa hình: Địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, bị chia cắt bởi sông rạch, cao độ biến đổi từ 1,5m đến 4,5m. khu vực cao là nằm ở nội ô thị xã cũ, khu thấp là khu ruộng trũng, kênh rạch. 3.1.4 Thuỷ văn: Thị xã Châu Đốc có nhiều sông, rạch lớn nhỏ chảy qua, trong đó có sông Hậu và kênh Vĩnh Tế là lớn. Kênh Vĩnh Tế nối sông Hậu ra biển T

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLUAN VAN.doc
  • dwgBE CHUA.dwg
  • docBIA.doc
  • dwgcaotrinh.dwg
  • dwgCONG TRINH THU - TRAM BOM.DWG
  • dwgLANG.dwg
  • dwgLOC.dwg
  • dwgMANG LUOI.dwg
  • dwgMAT BANG MANG LUOI HATCH.dwg
  • dwgmbtt.dwg
  • docMUC LUC TONG.doc
  • dwgNUT.dwg
  • docphu luc IN.doc
  • docTLTK.doc
  • dwgTRON.dwg