Chuyên đề Phương hướng và giải pháp phát triển sản xuất cây ăn quả ở ngoại thành Hà Nội

Trên thế giới, các nước có mức sống cao cũng là những nước có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm quả rất lớn trong đó quả tươi là loại thực phẩm không thể thiểu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày. Ngoài việc cung cấp chất khoáng và nhiều loại Vitamin khác nhau, hoa quả còn có tác dụng rất tốt trong việc tiêu hoá thực phẩm và chống chứng táo bón cũng như một số biểu hiện bất thường khác.

Ở những những nước này, cây ăn quả dược coi là một ngành kinh tế quan ttrọng, thúc đẩy sự phát triển ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế xã hội nói chung. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số nước không có điều kiện để phát triển cây ăn quả hoặc trình độ sản xuất cây ăn quả nằm ở mức thấp, không tự đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thì Nhà nước phải có chính sách nhập khẩu quả tươi hàng năm. Sự điều phối thị trường mua bán quả cả sản phẩm tươi và chế biến, tạo nên sự giao lưu hàng hoá ngày càng rộng rãi và trở thành một nhân tố kích thích cho sự phát triển cây ăn quả trên phạm vi toàn thế giới.

Ở Việt Nam, sau khi vấn đề lương thực giải quyết cơ bản nhu cầu quả tươi nhu cầu tiêu dùng ngày một gia tăng ( bình quân tiêu dùng quả/ đầu người một năm là 60 Kg(2000) và dự báo đến năm 2010 là 70Kg ). Sự giao lưu hàng hoá trong đó có quả dứa hai miền Nam Bắc tạo nên một thị trường tiêu thụ phong phú và đa dạng .

Nhìn trên tổng thể ,Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để phát triển cây ăn quả. Thực tế cho thấy những năm trước đây việc sản xuất cây ăn quả chưa được quan tâm đúng mức, tốc độ phát triển chậm và còn mang tính tự phát, kim ngạch xuất khẩu quả thấp, ngay cả tiêu thụ nội địa cũng chưa đáp ứng nhu cầu đang có xu hướng ngày càng tăng.

Hà nội vốn là vùng có một số cây ăn quả đặc sản như: cam Canh, bưởi Diễn, hồng xiêm Xuân Đỉnh. Các cây trồng này đã được trồng ở ngoại thành từ lâu đời. Những năm gần đây, do yêu cầu của thị trường, bên cạnh các cây ăn quả đặc sản, Hà nội còn phát triển nhiều loại cây ăn quả khác như: nhãn, táo, na dai, vải thiều.

Trong những năm qua, nhiều chương trình dự án có liên quan đến sản xuất cây ăn quả đã được triển khai ở 5 huyện ngoại thành như chương trình 327, khuyến nông khuyến lâm. Tuy có những lợi thế về thị trường, khoa học kỹ thuật, điều kiện kinh tế xã hội tốt, điều kiện tự nhiên khá phù hợp với một số cây ăn quả, nhưng sản xuất cây ăn quả Thành phố Hà nội chưa khai thác tận dụng có hiệu quả lợi thế này.

Thực trạng sản xuất cây ăn quả của Hà nội còn manh mún, chưa hình thành các vùng sản xuất cây ăn quả tập trung quy mô lớn với các loại cây ăn quả chiến lược. Sản xuất cây ăn quả còn chưa được đầu tư và chú trọng đúng mức. Diện tích vườn quả còn nhỏ, phân tán, vườn tạp còn nhiều, hiệu quả kinh tế chưa cao.

Phát triển cây ăn quả là một giải pháp tốt cho việc giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội; phát triển sản xuất một cách lâu dài ổn định, phù hợp với nền nông nghiệp thủ đô.Với ý nghĩa đó, chuyên đề “phương hướng và giải pháp phát triển sản xuất cây ăn quả ở ngoại thành Hà nội ” được xác lập.

 

doc95 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 920 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang nội dung tài liệu Chuyên đề Phương hướng và giải pháp phát triển sản xuất cây ăn quả ở ngoại thành Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời Mở Đầu 1.Tính cấp thiết của đề tài Trên thế giới, các nước có mức sống cao cũng là những nước có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm quả rất lớn trong đó quả tươi là loại thực phẩm không thể thiểu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày. Ngoài việc cung cấp chất khoáng và nhiều loại Vitamin khác nhau, hoa quả còn có tác dụng rất tốt trong việc tiêu hoá thực phẩm và chống chứng táo bón cũng như một số biểu hiện bất thường khác. ở những những nước này, cây ăn quả dược coi là một ngành kinh tế quan ttrọng, thúc đẩy sự phát triển ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế xã hội nói chung. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số nước không có điều kiện để phát triển cây ăn quả hoặc trình độ sản xuất cây ăn quả nằm ở mức thấp, không tự đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thì Nhà nước phải có chính sách nhập khẩu quả tươi hàng năm. Sự điều phối thị trường mua bán quả cả sản phẩm tươi và chế biến, tạo nên sự giao lưu hàng hoá ngày càng rộng rãi và trở thành một nhân tố kích thích cho sự phát triển cây ăn quả trên phạm vi toàn thế giới. ở Việt Nam, sau khi vấn đề lương thực giải quyết cơ bản nhu cầu quả tươi nhu cầu tiêu dùng ngày một gia tăng ( bình quân tiêu dùng quả/ đầu người một năm là 60 Kg(2000) và dự báo đến năm 2010 là 70Kg ). Sự giao lưu hàng hoá trong đó có quả dứa hai miền Nam Bắc tạo nên một thị trường tiêu thụ phong phú và đa dạng . Nhìn trên tổng thể ,Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để phát triển cây ăn quả. Thực tế cho thấy những năm trước đây việc sản xuất cây ăn quả chưa được quan tâm đúng mức, tốc độ phát triển chậm và còn mang tính tự phát, kim ngạch xuất khẩu quả thấp, ngay cả tiêu thụ nội địa cũng chưa đáp ứng nhu cầu đang có xu hướng ngày càng tăng. Hà nội vốn là vùng có một số cây ăn quả đặc sản như: cam Canh, bưởi Diễn, hồng xiêm Xuân Đỉnh. Các cây trồng này đã được trồng ở ngoại thành từ lâu đời. Những năm gần đây, do yêu cầu của thị trường, bên cạnh các cây ăn quả đặc sản, Hà nội còn phát triển nhiều loại cây ăn quả khác như: nhãn, táo, na dai, vải thiều. Trong những năm qua, nhiều chương trình dự án có liên quan đến sản xuất cây ăn quả đã được triển khai ở 5 huyện ngoại thành như chương trình 327, khuyến nông khuyến lâm. Tuy có những lợi thế về thị trường, khoa học kỹ thuật, điều kiện kinh tế xã hội tốt, điều kiện tự nhiên khá phù hợp với một số cây ăn quả, nhưng sản xuất cây ăn quả Thành phố Hà nội chưa khai thác tận dụng có hiệu quả lợi thế này. Thực trạng sản xuất cây ăn quả của Hà nội còn manh mún, chưa hình thành các vùng sản xuất cây ăn quả tập trung quy mô lớn với các loại cây ăn quả chiến lược. Sản xuất cây ăn quả còn chưa được đầu tư và chú trọng đúng mức. Diện tích vườn quả còn nhỏ, phân tán, vườn tạp còn nhiều, hiệu quả kinh tế chưa cao. Phát triển cây ăn quả là một giải pháp tốt cho việc giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội; phát triển sản xuất một cách lâu dài ổn định, phù hợp với nền nông nghiệp thủ đô.Với ý nghĩa đó, chuyên đề “phương hướng và giải pháp phát triển sản xuất cây ăn quả ở ngoại thành Hà nội ” được xác lập. 2. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu hiện trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ quả trong vùng, từ việc đánh giá mặt mạnh và yếu mà xác định các loại cây ăn quả chủ lực, các cây bổ trợ và nhóm cá loại cây có triển vọng phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. - Đánh giá tài nguyên sinh thái Hà nội, xác định mức độ thích nghi đối với một số cây ăn quả chủ yếu - Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất cây ăn quả của vùng, đồng thời đề xuất những giải pháp thực hiện, tiêu thụ quả của vùng. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Là một số cây ăn quả chủ yếu (nhãn, vải, hồng xiêm, bưởi, cam, quýt, chuối, đu đủ, hồng, na) đã và đang tồn tại trong phạm vi 5 tỉnh ngoại thành Hà nội Là mối quan hệ giữa các loại cây ăn quả với điều kiện sinh thái trong vùng, các yếu tố thúc đẩy, các yếu tố hạn chế, từ đó đề ra giải pháp phát triển một số cây ăn quả chủ yếu trong vùng. 3.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu tiến hành trên phạm vi 5 huyện ngoại thành Hà nội: Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn. 4.Nội dung của đề tài bao gồm: - Lời nói đầu - Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cây ăn quả - Phần II: Thực trạng phát triển cây ăn quả ở ngoại thành Hà nội - Phần III: Phương hướng và một số giải pháp phát triển sản xuất cây ăn quả ở ngoại thành Hà Nội - Kết luận Do thời gian nghiên cứu có hạn, với vốn kiến thức của bản thân còn hạn chế, nên nội dung đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để đề tài được tốt hơn. Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cây ăn quả I. Vị trí và vai trò của cây ăn quả 1. Vị trí cây ăn quả trong kinh tế nông nghiệp hiện nay Lịch sử loài người cho thấy rằng: ngay từ thửa xa xưa, trái cây đã là một trong các nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên của con người nguyên thuỷ. Giá trị dinh dưỡng và sinh tố của các loại quả đã khiến chúng được con người sử dụng ngày càng nhiều trong cuộc sống hàng ngàn năm nay.Theo tài liệu của FAO sản lượng quả các loại toàn thế giới thời kỳ 1989-1991 là 352 triệu tấn/năm, đến năm 2000 đã tăng lên đạt 429,4 triệu tấn/năm ( tăng 22% ). Trong khi đó mức tăng tương ứng của lúa gạo là 10,8%, khoai tây 10,6%, chỉ có rau (29,8%) là tăng nhanh hơn quả các loại. Năm 2000 sản lượng bình quân đầu người trên thế giới là 73kg, có những nước bình quân này rất cao như ý 273 kg, Thổ Nhĩ Kỳ 200 kg, Pháp 174 kg. Năm 2000 tốc độ tiêu thụ quả các loại tăng lên rõ rệt, trong khi các loại nông sản chủ yếu khác đều giảm đi (bảng 1): Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng hàng năm của các nông sản chính trên thế giới năm 2000 Nhóm nông sản Sản xuất Nhu cầu Bình quân 1978-1988 % Bình quân 1988-2000 % Bình quân 1878-1988 % Bình quân 1988-2000 % Lương thực thực phẩm Ngũ cốc Đậu đỗ Sản phẩm chăn nuôi Chất béo và dầu ăn Đường Đồ uống nhiệt đới Quả các loại 1,9 1,8 2,5 2,2 3,6 1,6 2,9 2,1 1,7 1,8 1,7 1,6 2,9 1,6 1,8 2,6 2,1 2,1 2,5 2,2 3,8 2,1 2,7 2 1,6 1,6 1,6 1,6 2,7 1,5 2,1 2,4 Do giá trị dinh dưỡng và hương vị phong phú, mà các loại hoa quả và rau quả nói chung là loại thức ăn không thể thiếu được trong đời sống con người và mức tiêu thụ ngày càng tăng. Rau quả ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Như ở Nhật bản trong 4 thập kỷ qua tỷ trọng rau quả trong tổng giá trị nông sản đã tăng lên như sau: 15% (1960), 25% (1970), 26% (1980), 34% (1990). Trong khi đó, lúa gạo từ 47% (1960) giảm xuống còn 28% (1990). Trước tình hình các nông sản xuất khẩu truyền thống (ngũ cốc, sản phẩm chăn nuôi, đường, đồ uống nhiệt đới..) trên thế giới có xu hướng tăng lên chậm hoặc không tăng, nhiều nước đang phát triển rất chú trọng chiến lược xuất khẩu các nông sản không truyền thống như rau quả. Ví dụ: Trị giá rau quả xuất khẩu giai đoạn 1983-1985 của Trung Quốc đạt 552 triệu USD, tăng 8,6 lần giai đoạn 1961-1963. So sánh tương tự Thái Lan đạt 295 triệu USD (tăng 49,1 lần), Đài loan đạt 544 triệu USD ( tăng 14,3 lần). Rau quả đã chiếm vị trí đáng kể trong cơ cấu nông sản xuất khẩu ở nhiều nước trên thế giới. Theo FAO tỷ trọng rau quả trong tổng giá trị nông sản xuất khẩu năm 1996 ở một số nước như sau: Trung Quốc 23,8%; Thái Lan 18,1%; Hàn Quốc 14,4%. Theo số liệu thống kê trong những năm gần đây (1996-2000), diện tích cây ăn quả cả nước tăng lên nhanh và liên tục, từ 260,9 ngàn ha (1996) đã tăng lên đạt 438,3 ngàn ha (2000). Về giá trị sản xuất cây ăn quả 5 năm qua cũng tăng liên tục, song tốc độ tăng chưa tương xứng với mức tăng về diện tích trồng, vì cây ăn quả phải trải qua thời kỳ chăm sóc (2-4 năm) mới bắt đầu có quả và năng suất sẽ tăng lên dần. Do vậy, tỷ trọng cây ăn quả trong cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt trong 5 năm qua không tăng, bình quân là 8,3% ( bảng2 ). Tính ra năm 2000 cây ăn quả mới chiếm 7,9% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước. Bảng 2: Vị trí cây ăn quả trong cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt cả nước Loại cây 1996 % 1997 % 1998 % 1999 % 2000 % Bình quân % Tổng số Trong đó: Cây lương thực Rau đậu Cây công nghiệp Cây ăn quả 100 65,9 6,4 16,7 8,8 100 63,6 7,5 28,3 8,4 100 64,1 7,3 18,4 8,2 100 62,5 7,3 19,5 8,2 100 63,9 7,2 19,1 7,9 100 64 7,1 18,1 8,3 Nguồn: Theo số liệu thống kê nông- lâm -thuỷ sản Việt Nam 1990-2000 2. Vai trò của sản xuất cây ăn quả Cây ăn quả là loại cây có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao. Trong những năm gần đây, cây ăn quả góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo môi trường sinh thái nhất là các tỉnh trung du miền núi. Trong xu thế phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, khi mà vấn đề lương thực cơ bản đã được giải quyết, đời sống nông dân được cải thiện thì nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm quả ngày càng cao cả về số lượng lẫn chất lượng. Có thể nói rằng cây ăn quả có vai trò hết sức to lớn đối với con người. Cụ thể là: 2.1 Quả dùng cho bữa ăn hàng ngày Các loại quả là nguồn dinh dưỡng quý giá của con người ở mọi lứa tuổi và ngành nghề khác nhau. Trong quả có loại đường dể tiêu, các axit hữu cơ, prôtêin, lipit, chất khoáng, pectin, tananh, các hợp chất thơm và các chất khác có nhiều loại vitamin khácc như A, B1, B2, B6,C,PP. Đặc biệt là vitamin C rất cần thiết cho cơ thể con người, vitamin A cần thiết cho trẻ em. Trong khẩu phần ăn của con người không những cần đầy đủ calo mà cần có vitamin, muối khoáng, các axit hữu cơ và các hoạt chất khác để các họt động sinh lý được tiến hành bình thường. Nhu cầu về calo dựa vào việc cung cấp đạm, mỡ, hydrat cacbon từ động vật và thực vật, còn vitamin và các hoạt chất khác thì chủ yếu dựa vào quả và rau. Biểu 3: Sản lượng tính theo đầu người / năm ở các nước trong khu vực Châu á- Thái Bình Dương ( từ năm 1985 -1987 ) STT Nước Sản lượng theo đầu người (Kg/năm) STT Nước Sảnlượng theo đầu người ( Kg/ năm) 1 Bangladesh 13,0 11 Papua Niu Ghilê 307,8 2 Mianma 23,3 12 Philippin 113,6 3 Trung quốc 11,3 13 Srilanka 49,2 4 Campuchia 39,9 14 Thái Lan 104,3 5 Bắc Triều Tiên 56,7 15 Việt Nam 61,1 6 Hàn Quốc 37,2 16 Nhật Bản 47,1 7 ấn Độ 31,3 17 Niuzilân 170,7 8 Inđônêxia 34,2 18 ểc 151,3 9 Lào 35,5 19 TB Châu á-TBD 30,1 10 Malaixia 69,3 20 TB Thế Giới 65,5 *Theo tài liệu điều tra của GS .TS TRần Thế Tục và cộng sự năm (1993) lượng tiêu thụ quả tươi ở Hà Nội bình quân là 30/kg/người. Theo các công trình nghiên cứu khoa học, để con người hoạt động bình thường thì hàng năm phải cung cấp khoảng 100kg quả/ người/ năm( các loại hoa quả như nho ,táo chuối , xoài, cam, mơ, mận, chanh..). Đó là những chỉ tiêu cơ bản để định kế hoạch cây ăn quả ở mỗi nước ( xem biểu 1). 2.2 Sản xuất cây ăn quả cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến-xuất khẩu Vai trò cung cấp nguyên liệu cho công nghệ chế biến và xuất khẩu đã tác động tới sự phát triển của công nghiệp, tạo nguồn ngoại tệ mạnh cho sự phát triển kinh tế nhất là những nước chưa phát triển, đặc biệt là Việt Nam. Vào đầu những năm 60, ngành công nghiệp chế biến rau quả của Việt Nam đã được hình thành và phát triển. Nó phát triển mạnh vào những năm 70 với nhiều chủng loại sản phẩm như: rau quả hộp, rau quả sấy, bán thành phẩm của quả (puple). Trước những năm 75, song song với việc phát triển các nhà máy ở phía Bắc, việc sản xuất phục vụ và các mặt hàng chế biến ngày cành phong phú, đa dạng: * Mặt hàng sấy có: chuối sấy ,vải sấy, long nhãn. * Mặt hàng nước giải khát: -Nước quả tự nhiên ( nguyên chất): là sản phẩm mà thành phẩm chủ yếu là dịch quả, trong đó có một phần thịt quả hoặc không chứa dịch quả. Nước quả tự nhiên có hàm lượng dinh dưỡng cao, cảm quan hấp dẫn do có màu sắc của sản phẩm rất gần với hương vị màu sấc của nguyên liệu . -Necta quả: còn gọi là nước quả đục, nước quả ngiền với thịt quả. Necta quả khác với nước quả tự nhiên ở chỗ chứa nhiều thịt quả và ở dạng sệ, chế biến bằng cách chà mịn các loại quả khó ép lấy dịch như: chuối, xoài, đu đủ, mẵng cầu. Do chứa thành phần quả; là chủ yếu nên Necta quả cũng có giá trị dinh dưỡng cao- tương tự như nước quả tự nhiên . -Nước quả cô đặc: là nước quả ép, lọc trong rồi được cô đặc tới hàm lượng chất khô 60-70%. Có thể coi nước quả cô đặc là một dạng bán chế phẩm để chế biến nước giải khát, rượu vang quả, rượu mùi, kem. Để nước quả cô đặc có mùi vị và giá trị dinh dưỡng cao người ta ứng dụng những công nghệ cô đặc tiên tiến. Phổ biến hơn cả là công nghệ cho nước quả bốc hơi ở độ chân không cao ( trên 500mm thuỷ ngân) để nhiệt độ được hạ thấp 50-600C. Cũng có thể áp dụng công nghệ làm lạnh đông: dịch quả được làm đông tới nhiệt độ -5 đến -100C. Khi ấy phần nước trong dung dịch đóng băng trước và được tách khỏi dịch quả bằng cách li tâm. Dịch quả được làm đặc từng bước và sản phẩm cuối cùng đạt độ khô 60-70% . -Xirô quả: Là nước quả được pha thêm nhiều đường (thường dùng đường kính trắng) để độ đường trong Xirô đạt 60-70% .Cần phân biệt Xiro quả với nước quả cô đặc, 2 sản phẩm này cùng chứa dịch quả, có cùng hàm lượng đường cao nhưng nước quả cô đặc không bổ sung đường còn Xiro quả đường bổ sung đường với số lượng lớn. -Squash quả:Tương tự như Xiro quả nhưng chứa nhiều thịt quả hơn và ở dạng đặc sánh hơn. -Nước quả lên men: được chế biến bằng cách cho nước quả lên men rượu. Sau thời gian lên men từ 24-36 giờ, độ rượu trong sản phẩm đạt tới 4 -5% V .Sau đó sản phẩm được triệt trùng, đóng vào bao bì kín và tiêu thụ nhanh. Nước quả lên men có hương vị đặc biệt do nấm men tạo ra, lại chứa nhiều CO2 nên có tác dụng tiêu hoá tốt. -Bột quả giải khát: Bao gồm dạng cao cấp là dạng bột quả hoà tan và dạng cấp thấp hơn là dạng bột quả không hoà tan. Bột quả hoà tan được chế biến từ nước quả, qua quá trình sấy đặc vừa sấy khô thành dạng bột , có thêm một số phụ gia thực phẩm để tăng thêm màu sắc hương vị và độ hoà tan cho sản phẩm. Bột quả giải khát không hoà tan thì được chế biến từ quả nghiền mịn ( cả thịt lẫn với phần xơ ) rồi sấy khô bằng máy sấp phun hoặc máy sấy kiểu trục cán để sản phẩm đạt độ khô rất cao, thuỷ phân chỉ còn 2-5%. Sau đó, sản phẩm được gia màu, gia hương tương tự như bột quả giải khát hoà tan. -Nước quả giải khát : Thành phần chủ yếu là dịch quả, chiếm 10-50% ( tuỳ theo dạng nguyên liệu và dạng sản phẩm) cộng với đường axit thực phẩm, chất màu thực phẩm và hương liệu. Sản phẩm có thể được nạp CO2 hoặc không nạp CO2. Hiện nay công ty rau quả Việt Nam đang lập dự án xây dựng mới các cơ sở chế biến rau quả tại các trọng điểm trước mắt là các xí nghiệp NCN Đồng Giao. Trong các dự án nói trên sản phẩm nước quả giải khát luôn được coi là một trong những sản phẩm chủ yếu của các cơ sở chế biến rau quả . Công nghiệp chế biến rượu vang: mới phát triển trong những năm gần đây và chủ yếu là ở các tỉnh miền Bắc như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên. Sản lượng rượu vang năm 1993 khoảng 10 triệu lít, nguyên liệu quả cần dùng khoảng 25 nghìn tấn . Các loại quả được sử dụng như nho, dứa, chuối, mận và những loại quả khác. Công nghệ chế biến rượu vang đang có triển vọng phát triển do nhu cầu tiêu dùng của thị trường dang ngày một tăng lên. Hiện nay có khoảng 17 nhà máy chế biến quả xuất khẩu.Trong đó tông công ty quản lý 12 nhà máy và 5 nhà máy địa phương quản lý ( Sơn La, Sơn Tây, Hữu Giang, Linh Xuân, Tiền Giang) với tông công xuất 50.000 tấn /năm về đồ hộp và 25.000 tấn/năm về rau quả đông lạnh. Hầu hết các thiết bị đều nhập từ các nước XHCN ( cũ) như Nga, Đức, Bungari, Balan, Hungari và đã sử dụng 20-30 năm nay nên thiết bị và công nghệ đã lạc hậu. Những năm cao điểm, các nhà máy trên đã sản suất được 19.000 tấn quả đóng hộp ( 1987) và 20.000 tấn dứa đông lạnh(1984). Từ sau 1990, khi bị mất thị trường truyền thống, quả được xuất sang thị trường Châu á và Tây Âu , song mới ở dạng thăm dò, giới thiệu. Do vậy hiện nay các nhà máy mới chỉ sử dụng 40-50% công suất và hiệu quả kinh tế đưa lại còn thấp. Ngoài hệ thông các nhà máy chế biến nêu trên,vài năm gần đây hệ thống lò sấy thủ công chế biến long nhãn xuất khẩu sang Trung Quốc cũng được phát triển ở vùng nhãn đồng bằng Sông Cửu Long và các tỉnh có nhiều nhãn ở đồng bằng sông Hồng như Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam. Theo số liệu điều tra thì cả nước có khoảng 140 lò sấy, trong đó đồng bằng sông Cửu Long có 115 lò đồng bằng Sông Hồng có 25 lò, tiêu thụ khoảng 70% nhãn tươi trong vùng. Khối lượng long nhãn thành phẩm khoảng 4000-5000 tấn. Chỉ từ năm 1981-1990 nghành rau quả xuất khẩu được khối lượng đáng kể và thu được kim ngạch khá lớn. Năm 1981 xuất được 42106 tấn sản phẩm thu được 11.992.000 USD ( chiếm 9,7% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản). Về xuất khẩu rau quả tươi chiếm 40-60% ( từ năm 1989-1990 chỉ còn chiếm 18-30%) kim ngạch chỉ đạo 32-36% tổng kim ngạch xuất khẩu.Trong đó nhóm gia vị chiếm 5-15% nhưng kim ngạch xuất khẩu lại cao chiếm 25-30%. Vì vậy,ta tăng sản phẩm chế biến, giảm xuất khẩu tươi (năm 1993 kim ngạch xuất khẩu còn 6,9 triệu USD) . 2.3. Cây ăn quả còn có tác dụng lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái với các chức năng làm sạch môi trường, giảm tiếng ồn, làm rừng phòng hộ, làm đẹp cảnh quan. Nhiều cây giống ăn quả cho nguồn mật có chất lượng cao được nhiều người tiêu dùng ưa thích. ở vùng nhiệt đới cây ăn quả còn có tác dụng bảo vệ dất chống xói mòn, làm hàng rào cản bão. ở các khu dân cư, đô thị người ta trồng cây ăn quả với mục đích cây cảnh, cây bóng mát. Nhiều cây ăn quả có tán lá đẹp, màu sắc hấp dẫn dùng trồng trong công viên hoặc các công trình kiến trúc, các bảo tàng, bệnh viện hay các khu điều dưỡng. Các vùng vải, nhãn ở Hưng Yên, Lục Ngạn vừa là nguồn sản phẩm dinh dưỡng quý vừa có độ che phủ chống xói mòn, bảo vệ đất với hiệu quả cao hơn nhiều so với các cây trồng trước đó. 2.4. Sản xuất cây ăn quả góp phần tăng thu nhập Một số cây ăn quả mặc dù có giá trị kinh tế cao như nhãn, vảI, xoài, nhưng lại có thể tận dụng trồng ở đất qoanh vườn nhà, đất đồi và những đất chưa được khai thác góp phần tăng thu nhập cho nông dân. II. Đặc điểm của sản xuất cây ăn quả 3.1 Đặc điểm kinh tế Các loại cây ăn quả thường có chu kỳ sản xuất dài chỉ trồng một lần, đời sống cơ thể kéo dài và thu hoạch nhiều năm với năng suất cao, giá trị gấp 10-15 lần trồng lúa.Trong khi đó, đầu tư cho cây ăn quả không cao, ít sâu bệnh, độ rủi ro thấp ( chủ yếu do điều kiện thời tiết mang lại hơn ) so với cây trồng khác . Chính vì vậy ,cây ăn quả được đánh giá cao, giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng hiện nay ở nước ta. 3.2 Đặc Điểm Kỹ Thuật . Cây ăn quả là loại cây trồng cạn, có tính chịu hạn cao, không kén đất, với khả năng này nó tận dụng được đất đai không thể trồng được cây lương thực, với kỹ thuật canh tác trên đất dốc, cây ăn quả có thể trụ lại và phát triển bình thường, sau thời kỳ kiến thiết cơ bản ( thường từ 3-4 năm) đến thời kỳ sản xuất kinh doanh, thời kì này kéo dài vài chục năm thậm chí kéo dài cả trăm năm. Cho tới nay vẫn chưa xác định chắc chắn chu kì sản xuất của nó là bao nhiêu năm, điểm này rất thuận lợi cho việc sản xuất. Tuy nhiên, do đặc điểm về kỹ thuật trong sản xuất dẫn đến tính thời vụ cao nếu chuyên môn hoá quá sâu.Để giảm bớt tính thời vụ trong việc phát triển ngành cây ăn quả cần lưu ý mấy vấn đề sau: + thực hiện chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp bằng cách kết hợp cơ cấu cây ăn quả hợp lý,kết hợp cây ăn quả với các loại cây trồng và vầt nuôi khác.Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý để sử dụng tối đa lực lượng lao động và sở dụng hợp lý các loại ạt tư kỹ thuật. + Tạo ra các giống cây cho sản phẩm không trùng nhau trong một năm( cây trái vụ) để hạn chế tính thời vụ. III. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất cây ăn quả 1. Nhân tố tự nhiên * Đất đai: là yếu tố sản xuất không thể thiếu được của mọi nhành sản xuất, đặc biệt là ngành trồng trọt, trong đó có ngành rau quả. Số lượng, chất lượng, vị trí của đất đai có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành sản xuất câu ăn quả. Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu á, đất nước có chiều dài trên 15 vĩ độ với mấy ngàn km giáp biển đông. Đất đai nước ta rất phong phú, cả nước có 13 nhóm đất chính, trong đó nhóm đất đỏ chiếm gần 54% được phân bố ở trung du miền núi phía Bắc. Đây là nhóm đất có chất lượng tốt thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp lâu năm và đặc biệt là cây ăn quả. Còn lại là tất cả các loại đất như: đất đen, đất xám, dất phù sa, đều thuận lợi cho việc phát triển cây ăn quả. *Khí hậu: khí hậu là môi trường sống của các loại cây trồng. Vì vậy, nếu khí hậu thời tiết thuận lợi cây trồng phát triển tốt và ngược lại, nếu thời tiết không thuận lợi thì cây trồng không phát triển được hoặc kém phát triển. Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa với sự biến đổi khí hậu giữa các miền Bắc- Nam. Điều đó cho phép nước ta trồng được nhiều loại hoa quả nhiệt đới, á nhiệt đới và một số rau quả gốc ôn đới, mùa vụ thu hoạch kế tiếp nhau nhiều tháng trong năm. Việt Nam còn là một trong những vùng phát sinh của một số cây ăn quả như cam, quýt, vải, chuối và có nguồn gien di truyền thực vật phong phú, đa dạng về cây ăn quả, gia vị và hoa. Bên cạnh những lợi thế sinh thái, rau quả nước ta cũng bị ảnh hưởngcủa một số hạn chế và bất lợi của khí hậu đối với nông nghiệp như : bão lụt, thời tiết kém ổn định do gió mùa đông bắc, dẫn tới rủi ro về chất lượng. *Địa hình: Rải đều khắp từ Bắc tới Nam là địa hình từ núi cao đến đồng bằng, sông suối và ven biển đã tạo nên những lợi thế về địa lý -sinh thái so với nhiều nước khác. Các hệ thống giao thông đường bộ, đường biển và hàng không thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa quốc tế và khu vực. 2. Nhân tố kinh tế xã hội *Lao động: là yếu tố sản xuất, là nhân tố quyết định đến sự phát triển của các ngành trong đó có ngành rau quả. Việt Nam là một nước nông nghiệp, hiện tại 80% dân số cả nước sống ở nông thôn và trên 70% lực lượng lao động toàn xã hội làm việc trong khu vực này. Do vậy, có thể nói lực lượng lao động cuỷa nước ta rất dồi dào và có thể cung cấp đủ lao động cho sản xuất cây ăn quả. Người nông dân nước ta cần cù sáng tạo, qua nhiều thế hệ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trồng trọt, chọ giống rau đậu, cam, quýt, bưởi, hồng xoài, chôm chôm, thanh long. Nông dân ở nhiều vùng rau quả thuyền thống đã thu được năng suất và lợi nhuận cao. Tuy nhiên, chỉ với kinh nghiệm thì nhiều vấn đề chưa giải quyết được, nhất là các khâu như: giống, phòng trừ sâu bệnh, xử lý sau thu hoạch.Nhìn chung, trình độ dân trí của nước ta còn thấp so với nhiều nước trên thế giới. *Cơ sở vật chất kỹ thuật: là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến việc sản xuất cây ăn quả. Hiện nay Việt Nam nhập khẩu nhiều dây chuyền sản xuất của một số nước trên thế giới do vậy nước ta đã có nhiều dây chuyền sản xuất hiện đại đưa vào sản xuất với công suất lớn, chất lượng cao. Nhưng nhìn chung chúng ta vẫn còn nhiều công nghệ lạc hậu so với thé giới. Vì vậy, sản lượng và chất lượng các loại sản phẩm chưa cao, khả năng cạnh tranh các loại sản phẩm nông nghiệp nước ta ( kể cả rau quả ) còn rất hạn chế. *phong tục tập quán:sản xuất cây ăn quả nước ta vẫn còn mang tính tự phát , sản xuất nhỏ, phân tán theo tập quán. Ruộng đất phân chia nhỏ theo từng hộ nông dân, vốn liếng ít ỏi nhất là ở phía bắc, càng ngại rủi ro, chưa dám mạnh dạn đầu tư và thích ứng kịp thời với sản xuất hàng hòa theo cơ chế thị trường. Do vậy, có những trường hợp nông dân bị tác động bởi giá cao hơn, không đảm bảo chữ tín hợp đồng. Đây là một nhược điểm và trở ngại trong tổ chức sản xuất rau quả chế biến. *Cơ chế chính sách: là nhân tố ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất cây ăn quả. Nếu chính sách đúng nó sẽ tạo điều kiện và kích thích ngành rau quả phát triển sản xuất và tăng khối lượng xuất khẩu. Nhưng ngược lại, nếu cơ chế chính schs mà không đúng thì sẽ cản trở phát triển sản xuất câu ăn quả. Do hoàn cảnh nước ta một thời gian dài phải tạp trung cho sản xuất lương thực, nên khả năng đầu tư cho các ngành sản xuất nông sản có giới hạn. Trong đó , ngành rau quả chưa được đầu tư đúng mức do vậy chưa phát huy được tièm năng vốn có. Những năm gần đây, nhà nước đã có chình sách đầu tư cho ngành rau quả thích đáng hơn, công tác nghiên cứu khoa học được nhà nước quan tâm nhiều hơn. Cho nên, ngành rau quả đã có sj phát triển nhất định. Song các chính sách khuyến khích sản xuất cây ăn quả còn nhiều hạn chế chưa khuyến khích được ngành rau quả phat triển mạnh. 3. Nhân tố về tổ chức kỹ thuật Những nhân tố nông nghiệp này bao gồm: các hình thức tổ chức sản xuất ( trang trại, hợp tác xã , hộ gia đình); sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng chúng vào sản xuất. Các hình thức tổ chức sản xuất phản ánh mức độ tập trung cac nguồn lực của địa phương cho sản xuất. Trong ngành nông nghiệp ở các nước tư bản phát triển thì hình thức tổ chức sản xuất chủ yều là trang trại, có rất nhiều những trang trại với quy mô hàng ngàn ha, còn ở nước ta thì chủ yếu lại là hộ gia đình, sản xuất với quy mô nhỏ bé, ruộng đất manh mún, phân tán là nguyên nhân cản trở sản xuất hàng háo phát triển. Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất góp phần hoàn thiện các phương thức sản xuất nhằm khai thác, ứng dụn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc100657.doc
Tài liệu liên quan