Đề tài Một số giải pháp nhằm phục hồi và phát triển các làng nghề ở tỉnh Thái Bình

Làng nghề truyền thống ở nước ta đã có từ lâu đời với nhiều làng nghề nổi tiếng trong và ngoài nước. Cùng với các làng nghề truyền thống các nghề mới, làng nghề mới cũng xuất hiện. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay các làng nghề có vị trí đặc biệt quan trọng chúng là một bộ phận cơ bản của công nghệp nông thôn. Các làng nghề có khả năng thu hút nhiều lao động góp phần tích cực vào việc giải quyết tình trạng thất nghiệp tăng thu nhập cho người lao động nhất là ở vùng nông thôn.

Thái Bình là một tỉnh thuần nông với 94% dân số sống ở nông thôn là nơi có số lượng làng nghề tập trung đông, nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng. Các làng nghề đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh. Tuy nhiên trong những năm gần đây mặc dù Nhà nước đã có những chính sách cho phép và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nhưng các làng nghề vẫn gặp rất nhiều khó khăn một số làng nghề bị mai một. Do đó chưa tạo điều kiện để thu hút hết lực lượng lao động cũng như sử dụng hết khả năng tay nghề của người thợ nhằm phát huy tối đa tiềm năng kinh tế vốn có của tỉnh.

Việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống cũng như các làng nghề mới có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ về mặt kinh tế mà về mặt ổn định chính trị xã hội.

Để góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội thực hiện CNH HĐH mà cụ thể là phát triển các làng nghề ở Thái Bình, cần phải nghiên cứu đưa ra được những giải pháp hữu hiệu đó chính là yêu cầu của đề tài "Một số giải pháp nhằm phục hồi và phát triển các làng nghề ở tỉnh Thái Bình".

 

doc61 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 994 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang nội dung tài liệu Đề tài Một số giải pháp nhằm phục hồi và phát triển các làng nghề ở tỉnh Thái Bình, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phần mở đầu Tính cấp thiết của đề tài Làng nghề truyền thống ở nước ta đã có từ lâu đời với nhiều làng nghề nổi tiếng trong và ngoài nước. Cùng với các làng nghề truyền thống các nghề mới, làng nghề mới cũng xuất hiện. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay các làng nghề có vị trí đặc biệt quan trọng chúng là một bộ phận cơ bản của công nghệp nông thôn. Các làng nghề có khả năng thu hút nhiều lao động góp phần tích cực vào việc giải quyết tình trạng thất nghiệp tăng thu nhập cho người lao động nhất là ở vùng nông thôn. Thái Bình là một tỉnh thuần nông với 94% dân số sống ở nông thôn là nơi có số lượng làng nghề tập trung đông, nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng. Các làng nghề đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh. Tuy nhiên trong những năm gần đây mặc dù Nhà nước đã có những chính sách cho phép và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nhưng các làng nghề vẫn gặp rất nhiều khó khăn một số làng nghề bị mai một. Do đó chưa tạo điều kiện để thu hút hết lực lượng lao động cũng như sử dụng hết khả năng tay nghề của người thợ nhằm phát huy tối đa tiềm năng kinh tế vốn có của tỉnh. Việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống cũng như các làng nghề mới có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ về mặt kinh tế mà về mặt ổn định chính trị xã hội. Để góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội thực hiện CNH HĐH mà cụ thể là phát triển các làng nghề ở Thái Bình, cần phải nghiên cứu đưa ra được những giải pháp hữu hiệu đó chính là yêu cầu của đề tài "Một số giải pháp nhằm phục hồi và phát triển các làng nghề ở tỉnh Thái Bình". Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài Làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của việc phát triển các làng nghề ở vùng nông thôn. Phân tích đánh giá thực trạng của các làng nghề, tìm ra những thuận lợi và khó khăn của làng nghề. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm phát triển làng nghề tạo thêm nhiều chỗ làm cải thiện đời sống người nông dân. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình sản xuất kinh doanh và hiệu quả của các làng nghề thông qua các số liệu đã điều tra. Phạm vi nghiên cứu: Vùng nông thôn tỉnh Thái Bình trong đó tập trung vào một số làng nghề tiêu biểu các tư liệu, số liệu được thu thập từ 1991 - 2000. Phạm vi nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề có sử dụng các phương pháp sau: + Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. + Phương pháp phân tích tổng hợp. + Phương pháp thống kê kinh tế, điều tra chọn mẫu.... Tên và kết cấu chuyên đề: + Phần mở đầu + Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển các làng nghề ở nông thôn. + Chương II Thực trạng về các làng nghề ở nông thôn tỉnh Thái Bình. + Chương III Định hướng và một số giải pháp phát triển làng nghề ở Thái Bình. + Kết luận và kiến nghị Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển các làng nghề ở nông thôn. I. Các khái niệm và đặc trưng của làng nghề 1.Các khái niệm: - Làng nghề Lịch sử nông thôn việt nam gắn liền với các thôn làng và các làng nghề chúng là đặc trưng cho truyền thống kinh tế văn hoá của xã hội thông thôn các làng nghề là cầu nối giữa công nghiệp và nông nghiệp giữa nông thôn và thành thị giữa truyền thống và hiện tại là nấc thang quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá ở nông thôn nước ta. Nói đến làng nghề chúng ta cần chú ý 2 yếu tố cấu thành đó là làng và nghề. Làng là một khu vực địa lý một không gian lãnh thổ nhất định ở đó tập hợp những người dân cùng sinh sống cùng sản xuất. Các làng nghề gắn bó với các ngành nghề phi công nghiệp các ngành nghề thủ công ở các thôn làng. Để nhận dạng làng nghề người ta sử dụng hai tiêu chí sau: + Tỷ trọng số hộ làm nghề trong làng. + Tỷ trọng thu nhập từ nghề trong tổng thu nhập của làng. Làng nghề là một khái niệm mang tính tương đối nó phụ vào chủ trương chính sách của từng địa phương. ở Thái Bình theo quy định tạm thời làng (xã) nghề là một khu vực dân cư ở nông thôn tập hợp từ 50% số hộ nông dân trở lên làm nghề CN - TTCN dịch vụ thương mại có sản phẩm hàng hoá khá lớn tiêu thụ ở trong và ngoài nước có thu nhập ít nhất chiếm 30% tổng thu nhập của làng (xã). Nói tới làng nghề người ta thường chỉ chú ý đến làng nghề truyền thống mà ít liên hệ đến làng nghề mới. Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, những làng nghề với những giá trị đặc sắc đã tồn tại hàng trăm năm thậm chí hàng ngàn năm. Các làng nghề truyền thống thường có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa, có bí quyết nghề nghiệp và đặc biệt là tạo ra những sản phẩm tiêu biểu độc đáo cho Việt nam có giá trị, chất lượng cao, vừa là hàng hoá và là sản phẩm văn hoá nghệ thuật. Ngày nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển các làng nghề mới hình thành ngày một nhiều. Chúng được hình thành do sự lan toả của các làng nghề truyền thống và sự ra đời của những ngành nghề mới. Các làng nghề ra đời ban đầu là nhằm giải quyết dư thừa lao động lúc nông nhàn ở nông thôn, sau này một số làng nghề phát triển mạnh mà tách dần ra khỏi nông nghiệp. Chính vì thế mà trong các làng nghề hiện nay thường cùng tồn tại ba loại hộ là hộ thuần nông, hộ kiêm nghề, hộ chuyên nghề và cơ sở chuyên ngành nghề nông thôn. Hộ nông nghiệp thuần là những hộ có toàn bộ hoặc phần lớn lao động tham gia sản xuất nông lâm ngư nghiệp, đó cũng là nguồn sống của những hộ này. Hộ kiêm là những hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm ngành nghề. Đây là loại hộ nhiều ở các vùng nông thôn tỉnh Thái bình Hộ chuyên là những hộ có toàn bộ hoặc phần lớn lao động trong hộ cũng như thuê thêm lao động ngoài tham gia các ngành nghề phi nông nghiệp và đây cũng chính là nguồn thu chủ yếu cuả họ. Các hộ chuyên có thể có đất nông nghiệp song sản xuất nông nghiệp chỉ là thứ yếu. Bên cạnh đó các hình thức tổ chức sản xuất mới cũng không nghừng được hình thành đó gọi chung là các cơ sở ngành nghề. Cơ sở chuyên ngành nghề nông thôn là những cơ sở ở nông thôn chuyên các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp đã được cấp đăng ký kinh doanh theo luật định. Phân loại theo thành phần kinh tế cơ sở chuyên nghề được chia thành 5 nhóm: Tổ hợp sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH và xí nghiệp quốc doanh. Các cơ sở chuyên nghề hình thành ngày càng nhiều với vai trò quan trọng trong phát triển ngành nghề nông thôn. Đồng thời cùng với sự thăng trầm của làng nghề số lượng hộ, lao động cũng có biến động rất mạnh mẽ với những nghề phát triển mạnh số hộ, lao động làm nghề tăng nhanh và ngày càng có nhiều hộ chuyên sống bàng nghề đó. Cũng có những nghề truyền thống bị mai một số người làm nghề ngày càng giảm thậm chí chỉ còn một vài hộ làm nghề cũ đa số các hộ chuyển sang làm nghề khác, nhưng khi có điều kiện thuận lợi để khôi phục và phát triển trở lại nghề cũ chắc chắn họ sẽ tiếp tục làm và phát triển nghề truyền thống mà nhiều đời họ đã lưu truyền và dìn giữ. Như vậy không chỉ căn cứ vào số hộ lao động làm nghề nhiều hay ít để xác định có phải là làng nghề truyền thống hay không mà còn phải dựa vào thực tiễn lịch sử phát triển của địa phương đó để xem xét. Ngoài ra người ta còn có khái niệm về làng một nghề và làng nhiều nghề để chỉ số nghề tiểu thủ công nghiệp mà số làng này làm và chúng có đóng góp đáng kể vào thu nhập của họ ngoài nghề nông. 2.Đặc trưng của làng nghề: Hầu hết các làng nghề tiêu thủ công nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư sản xuất không lớn tạo ra được nhiều chỗ làm tại địa phương. Đây là một thuận lợi có bản để các ngành nghề phát triển trong điều kiện còn nhiều khó khăn về vốn, về kiến thức sản xuất kinh doanh. Các làng nghề truyền thống thường có bí quyết gia truyền và có một vị tổ nghề riêng. Trước đây phương thức truyền nghề chủ yếu là ở phạm vi gia đình theo những quy định nghiêm ngặt. Tuy nhiên từ sau khi thực hiện cải cách công thương nghiệp phương thức dạy nghề và truyền nghề trở nên đa dạng và phong phú hơn. Theo kết quả khảo sát 1995 của Trung tâm dân số và nguồn lao động tại vùng Đồng bằng sông Hồng cho thấy phương thức truyền nghề trong phạm vi gia đình chiếm 31,81%, tự học 27,24%, tự nhận đào tạo 13,28% địa phương (huyện xã) đào tạo chiếm 10,16% Nhà nước đào tạo chiếm 0,78%. Thời gian dạy nghề đối với các nghề rất khác nhau một số nghề có thời gian đào tạo ngắn như nhóm các nghề mây tre đan, chế biến lương thực thực phẩm... các nghề cần thời gian học việc dài hơn là nghề mộc chạm bạc, gốm sứ... Một nét chung trong đào tạo thợ cho các làng nghề truyền thống là hầu hết người thợ phải vừa học vừa làm và thông qua việc đó mà học hỏi được kỹ thuật, củng cố tay nghề cho mình. Sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống chứa đựng những giá trị văn hoá nghệ thuật đặc sắc. Các sản phẩm của nghề gốm sứ, chạm khắc dệt vải dệt lụa... trước hết đó là những vật phẩm nhằm thoả mãn yêu cầu sử dụng của con người nhưng trên đó là giá trị về bản sắc văn hoá của cả một dân tộc. Sản phẩm thủ công truyền thống Việt nam bao giờ cũng phản ánh sâu sắc tư tưởng tình cảm và quan niệm thẩm mỹ của dân tộc Việt nam. Một đặc thù khác quan trọng của hàng thủ công truyền thống là tính cá biệt, tính riêng mang phong cách của mỗi nghệ nhân và nét địa phương tồn tại trong sự giao lưu với cộng đồng. Yếu tố văn hoá đậm nét của hàng thủ công truyền thống đã tạo nên vị trí quan trọng của các sản phẩm này trên thương trường và giao lưu quốc tế. Trong điều kiện toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt nếu phải xem xét để tìm ra được những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế của những nước đang phát triển như Việt nam thì trên hết phải kể đến sản phẩm các làng thủ công truyền thống. II. Phân loại làng nghề 1. Phân theo lịch sử tồn tại và phát triển: Theo tiêu chí trên người ta phân chia các làng nghề thành làng nghề truyền thống và làng nghề mới. Chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã tạo ra một sức sống mới cho các làng nghề. Rất nhiều làng nghề trước đây bị mai một nay đã bắt đầu phát triển và lan rộng ra các nơi khác. Theo số liệu thống kê cả nước hiện có trên 1400 làng nghề trong đó ĐBSH là nơi tập trung đông nhất tới trên 700 làng nghề với khoảng 200 làng nghề truyền thống thu hút gần 600.000 lao động. Bảng 1: Làng nghề và lao động ĐBSH (1998) Thái Bình Tổng số Truyền thống Mới Lao động làm nghề Thái Bình 82 14 68 88.505 Ninh Bình (*) 161 20 141 87.221 Nam Định 90 29 61 52.132 Hà Nam 37 16 21 38.802 Hải Dương 42 30 12 34.440 Hưng Yên 39 11 28 22.391 Hải Phòng (**) 80 15 65 33.762 Hà Nội (***) 40 20 20 68.679 Hà Tây 88 20 68 113.956 Tổng 731 215 516 594.303 Nguồn : Báo cáo tổng hợp của các ban kinh tế, sở công nghiệp, sở nông nghiệp các tỉnh. (*) Số liệu của NB là những làng có nghề (**) Số liệu của HP gồm 26 xã điêu tra (***) Số liệu của HN chỉ gồm 4 huyện ngoại thành 2. Phân chia theo chức năng và công dụng của sản phẩm Nhóm I: bao gồm các nghề gốm sứ, sơn mài thêu rèn, thảm, chạm khắc gỗ chạm mạ vàng bạc, dệt tơ tằm, thổ cẩm mây tre đan các loại. Đây là những làng nghề thủ công mỹ nghệ có sản phẩm được ưa chuộng không những trong mà cả ngoài nước. Nhóm II: Các làng nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thường gồm dệt chiếu, làm nón, đan mành rổ rá bồ sọt, dệt vải các loại. Đây là những làng nghề mà sản phẩm của chúng đang bị chèn ép lớn do sự phát triển của khoa học công nghệ của vật liệu mới... Nhóm III: Gồm các làng nghề làm thuốc và chế biến lương thực thực phẩm: Làm bún, bánh, làm đường, làm mật... Nhóm IV: Các làng nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như nề, mộc rèn, hàn đúc làm cây bừa... Việc phân loại như trên chỉ mang tính tương đối bởi lẽ một số nghề có thể vừa thuộc nhóm này lại vừa thuộc nhóm khác. Một số nghề đối với địa phương cơ sở được coi là nghề truyền thống nhưng trên phạm vi vĩ mô thì có thể chưa được coi là làng nghề truyền thống. Ngoài ra để thuận tiện cho quản lý người ta còn thực hiện phân chia làng nghề theo địa giới hành chính, tỉnh, huyện, xã. III. Vai trò của các làng nghề trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương. 1.Tính tất yếu của việc hình thành làng nghề ở nông thôn: - Phát triển ngành nghề ở nông thôn là vấn đề mang tính lịch sử. Từ xa xưa khi sản xuất còn giản đơn, việc sản xuất và mua bán các sản phẩm công nghiệp chưa phát triển sản xuất nông nghiệp là chủ yếu và thời điểm nông nhàn người nông dân tự sản xuất ra các đồ dùng sinh hoạt chogia đình, bản thân. Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn bắt đầu có phân công lao động xã hội sự trao đổi hàng hoá đã dần dần hình thành nên các làng nghề để trao đổi sản phẩm cho nhau. Những hoạt động đó dần dần được đúc kết lại lưu truyền qua các thế hệ và trở thành các ngành nghề truyền thống ở nông thôn. Cùng với những kỹ thuật truyền thống và nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương các ngành nghề phát triển mạnh và có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động kinh tế xã hội ở địa phương đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Nước ta là một nước nông nghiệp có đến 80% dân số ở nông thôn, một đặc điểm lớn của nghề nông là tính thời vụ và thu nhập thấp. Hàng năm người nông dân sau những mùa cấy gặt vất vả là lúc nông nhàn. Diện tích đất bình quân đầu người ngày càng thấp đã khiến cho tình trạng thất nghiệp trở nên trầm trọng. Hơn nữa lao động nông nghiệp chủ yếu là lao động chân tay không kỹ năng lao động, không có tay nghề, chính vì thế để tạo việc làm cho lực lượng này không gì hơn là phát triển các ngành nghề ngay tại địa phương. Do yêu cầu của vấn đề việc làm, thu nhập cùng với các điều kiện sẵn có ở địa phương mà đã hình thành nên các làng nghề. Tuy nhiên để các làng nghề tồn tại phát triển được còn phải dựa vào nhiều nhân tố khác nữa. -Trong đíều kiện của một nền kinh tế còn nhìều yếu kém với tiềm lực về khoa hoc, công nghệ còn hạn chế, vốn thiếu, lao động dư thừa nhiều chưa có khả năng tiến thẳng lên nền đại công nghiệp thì phải chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp coi đó là một bước song song với tích luỹ tạo tiềm lực cho CNH HĐH. Cùng với quá trình phân công lao động xã hội bộ phận lao động TTCN sẽ được giải phóng tách hẳn ra khỏi nông nghiệp., từ đó công nghiệp nông thôn ngày càng lớn mạnh góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. 2. Vai trò của làng nghề Sự phát triển của các làng nghề có tác dụng rất mạnh mẽ đối với quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Thứ nhất: Hình thành loại hình sản xuất có tính chất công nghiệp ngay tại địa bàn nông thôn bên cạnh hoạt động nông nghiệp. Để hoạt động có hiệu quả bắt buộc các làng nghề phải áp dụng việc tổ chức sản xuất một cách khoa học dựa trên sự phân công và hợp tác lao động phù hợp với từng loại hình nghề nghiệp. Sự phân công hợp tác đó có thể là đơn giản như nghề (mây tre đan, thêu ren) có thể phức tạp như (rèn mộc chạm khắc) các trang thiết bị mới hiện đại thay thế dần sức lao động cũng được ưu tiên sử dụng. Như vậy sự phát triển của các làng nghề cũng là sự phát triển của công nghiệp địa bàn nông thôn làm cho nông thôn phát triển dần theo hướng CNH HĐH. Thứ hai: Phát triển làng nghề sẽ giải quyết tốt nhu cầu việc làm tại chỗ góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Thực tế cho thấy ở những làng nghề đã được khôi phục và phát triển không chỉ lực lượng lao động trong từng hộ gia đình của điạ phương được toàn dụng mà có khi còn giải quyết được việc làm cho nhiều lao động ở nơi khác đến. Đáng chú ý là làng gốm sứ bát tràng hàng ngày thu hút thêm từ 3000-5000 lao động từ nơi khác đến làm thuê. Làng mộc mỹ nghệ cao cấp Đồng ky có 1550 hộ sản xuất với trên 3000 lao động ngoài ra còn thuê thêm hơn 1500 lao động từ các làng khác. Làng nghề chiếu cói, kim sơn đã sử dụng một lượng lớn lao động trong đó có 2000 lao động sản xuất nguyên liệu và 9679 lao động sản xuất các mặt hàng cói. Làng nghề dệt Vạn Phúc (Hà tây) có 1650 lao động nghề chiếm 72,3% lực lượng lao động của làng.... Nhờ có công ăn việc làm ổn định nên thu nhập của những làng nghề cao hơn hẳn các làng không nghề khác. Tuy nhiên, tuỳ theo từng loại nghề và mức độ phát triển của từng loại nghề mà mức thu nhập giữa chúng có sự chênh lệch đáng kể. Bảng 2: Thu nhập bình quân lao động / tháng ở 1 số làng nghề. STT Ngành nghề Thu nhập bình quân 1 Lao động làng gốm (Bát tràng) 430.000đ 2 Thợ điêu khác gỗ (Hà Tây) 800.000đ 3 Thợ chạm bạc (Đông Xâm-Thái Bình) 200.000đ 4 Thợ dệt đũi (Nam Cao – Thái Bình) 180.000đ Nguồn : kết quả điều tra ngành nghề nông thôn 1997 Các làng nghề góp phần đáng kể vào sự gia tăng giá trị sản phẩm của các địa phương, cơ cấu kinh tế có bước chuyển đổi rõ rệt. Năm 1995 tổng doanh thu từ nghề gỗ mỹ nghệ của làng Đồng kỵ đạt 25 tỷ, thu từ sản phẩm thêu Minh Lãng (Vũ thư - Thái Bình) đạt trên 4 tỷ đồng. ở Tân lễ (Hưng hà - Thái bình) nơi có truyền thống dệt chiếu thu từ công nghiệp và dịch vụ đã chiếm trên 83% tổng giá trị sản lượng, tỷ lệ hộ khá và giàu chiếm 78% trong tổng số hộ của địa phương. ở những làng nghề có tốc độ phát triển cao tỷ lượng lao động cũng có những chuyển biến tích cực. Bảng 3: Tỷ trọng lao động ở 1 số làng nghề tỉnh Bắc Ninh (%) Tên Làng Ngành Dương ổ Đa hội Đồng kỵ Lao động CN - TTCN 66 79,4 68,5 Lao động dịch vụ 5,2 6,5 1,7 Lao động nông nghiệp 28,8 14,1 29,8 Ba là: Phát triển làng nghề tạo điều kiện thúc đẩy sự nghiệp xây dựng nông thôn mới hiện đại. Việc xây dựng nông thôn mới hiện đại là mục tiêu lớn của sự nghiệp CNH HĐH theo tinh thần của Đại hội Đảng lần thứ VIII văn kiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đặt CNH HĐH nông nghiệp nông thôn là nội dung đầu tiên và ghi rõ "Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từng bước hình thành nông thôn mới văn minh hiện đại". Muốn xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn rộng lớn của nước ta đòi hỏi phải nguồn vốn rất lớn mà chỉ Nhà nước thì không thể làm được. Thu nhập được tạo ra từ các làng nghề, từ ngành nghề nói chung sẽ là nguồn vốn quan trọng cho sự nghiệp này. Qua nghiên cứu tìm hiểu ở một số làng nghề chúng tôi thấy ở đây không chỉ đời sống của đồng bào được nâng cao, cơ sở vật chất tốt hơn mà điều kiện chính trị xã hội cũng rất ổn định, đây chính là cơ sở cho sự phát triển của địa phương của tỉnh và cả nước. Ngoài những tác động tích cực đến nông nghiệp nông thôn chúng ta cũng không thể không xem xét các ảnh hưởng xấu về môi trường đề có những hướng giải quyết trong các chương trình phát triển, bảo đảm cho sự phát triển bền vững. IV. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của làng nghề. 1. Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý: - Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm sản xuất do đó nó ảnh hưởng lớn đến việc phát triển các ngành nghề. Mỗi vùng với điều kiện khí hậu thời tiết đặc trưng tạo nên những nguồn nguyên liệu cho các làng nghề khác nhau, hầu hết các sản phẩm thủ công truyền thống đều nhằm phục vụ đời sống của người dân mà mỗi nơi người dân có những nhu cầu khác nhau cho phép phát triển những ngành nghề khác nhau VD: vùng ĐBSH có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến ngành may mặc, ngành dệt len, chế biến lương thực và một số ngành khác ngoài ra nó còn ảnh hưởng tới việc vận chuyển bảo quản phơi sấy, đi lại, giao dịch buôn bán…. Đất đai cũng là nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của làng nghề nhất là việc thành lập các cơ sỏ ngành nghề , các cụm công nghiệp tập trung ở nông thôn - Vị trí địa lý là một yếu tố rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển và đảm bảo sự , phát triển lâu dài đối với các ngành nghề đặc biệt là các ngành nghề truyền thống. Thực tế cho thấy các làng nghề thường ở vị trí thuận trên về giao thông thuỷ bộ, gần nguồn nguyên liệu. ở những nơi lưu vực Sông Hồng, Sông Mã, Sông Cầu.... đã quần tụ nhiều làng nghề tạo thành các trung tâm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Hàng làm ra cần tiêu thụ ở nhiều tỉnh xa thậm chí ở hầu hết các địa phương trong cả nước mà xuất khẩu sang các nước khác yêu cầu vận tải lớn đó không thể thiếu đường bộ, đường sông, đường biển. Các cụ tổ nghề nhất định là ngay từ đầu đã quan tâm đến yếu tố "bến sông, bãi chợ" vốn có ấy để quyết định mở nghề lập nghiệp ở một nơi. Các cụ còn quan tâm đến nguồn nguyên liệu thích hợp cho yêu cầu sản xuất lâu dài, nhất là nguyên liệu tại chỗ. Bởi cho dù các cụ có lựa chọn làng nào có đức để truyền nghề thì thực sự dân làng nào cũng có thể đào tạo thành thợ được chứ vị trí địa lý giao thông vận tải và nguồn nguyên liệu tại chỗ có sẵn cho sản xuất và tiêu thụ hàng làm ra thì không thể tạo ra được, nhiều khi không thể muốn là được có thể khẳng định rằng nếu thiếu hai điều kiện (nguyên liệu, bến sông) chắc chắn không thể tồn tại những làng nghề lâu đời và nổi tiếng như hiện nay Phần lớn làng nghề ở nước ta làm nghề theo cấp độ là nghề phụ. Một số ít làng nghề khác đã lấy nghề thủ công làm nghề nghiệp chính phát triển nghề thủ công nghiệp đến mực thoát ly hẳn ngay tại làng quê mình thường diễn ra ở những làng nghề ít ruộng đất canh tác. Điều này giải thích tại sao ĐBSH lại là nơi có số lượng làng nghề tập trung đông nhất so với cả nước. Trình độ phát triển kinh tế - Nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường đối với hàng thủ công truyền thống nhu cầu này rất lớn và hết sức đa dạng thời nào cũng có không bao giờ chấm dứt. Nhìn chung đó là nhu cầu ăn, mặc ở đi lại, vận tải, học hành đó còn là nhu cầu chiến đấu bảo vệ đất nước và dân tộc, nhu cầu thờ cúng tôn giáo tín ngưỡng. Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử ở giai đoạn nào nhu cầu về tiểu thủ công nghiệp tăng thì làng nghề cũng tăng cả về quy mô và số lượng và ngược lại thu nhập càng tăng thì cần tăng tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Trong những năm vừa qua ngành tiểu thủ công nghiệp có nhiều biến động thăng trầm thị trường cũng có nhiều thay đổi nhất là sau sự sụp đổ của hệ thống XHCN nhưng cho đến ngày nay cùng với sự cải tiến về mẫu mã chất lượng sản phẩm đặc biệt là chủ trương mở rộng quan hệ ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta đã tạo đà cho ngành tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, một số mặt hàng tiêu dùng trong nước trước đây do ngành nghề thủ công sản xuất và cung cấp song nay do công nghiệp phát triển đã tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn phù hợp với nhu cầu người dân khiến nhiều làng nghề thủ công nghiệp đã phải thu hẹp dần quy mô sản xuất hoặc chuyển sang làm nghề khác VD: làm nón, quạt và một số nghề đan lát.... Trình độ của nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề. Cần phải khẳng định rằng vai trò của nghệ nhân đối với nghề và làng nghề thủ công truyền thống là rất lớn. Không có nghệ nhân thì không có làng nghề hay ít nhất cũng không thể có làng nghề lừng danh. Chính tài năng của các nghệ nhân với đôi "bàn tay vàng" của họ đã tạo nên những sản phẩm quý giá, tinh xảo và độc đáo những sản phẩm văn hoá sống mãi với thời gian, góp phần làm vẻ vang cho dân tộc và cho mỗi làng nghề. Chính nghệ nhân, thợ cả đã giữ cho làng nghề tồn tại đã đào tạo ra những nhóm thợ mà trước hết là con cháu của họ, những người trong gia đình, dòng tộc rồi đến con em trong làng thuộc các dòng họ khác. Kiên trì truyền dạy nghề hết ngày này qua ngàykhác theo lối "cầm tay chỉ việc", "vừa học vừa làm" các nghệ nhân đã tạo ra một đội ngũ thợ lành nghề ngay tại làng xóm mình. Cứ như thế thợ thủ công kế tiếp, đan xen nhau lớp này đến lớp khác đời sau nối tiếp đời trước. Do đặc trưng sản xuất thủ công cả gia đình từ ông bà, anh em con cháu đến cùng làm nghề mỗi người mỗi việc cho nên cùng một lúc ở làng nghề thường có vài ba thế hệ thợ thủ công cùng sản xuất. Kỹ thuật truyền thống và kinh nghiệm lâu đời. Về kỹ thuật hầu hết các làng nghề đều sử dụng kỹ thuật truyền thống lâu đời của Việt nam trong sản xuất. Mỗi nghề đều có kỹ thuật sản xuất riêng, kỹ thuật ấy bao gồm nhiều công đoạn, từ khâu khai thác chế biến nguyên liệu đến khâu cuối cùng là hoàn thành sản phẩm để bán ra thị trường cho người tiêu dùng. Trong đó còn bao hàm cả thủ pháp nghệ thuật, tuy các làng nghề đều sử dụng kỹ thuật chung, nếu các làng nghề ấy đều làm một nghề nhưng từng công đoạn kỹ thuật thì mỗi nơi một khác. Làng nghề nào cũng biến cách ứng dụng kỹ thuật chung ấy theo cách tiêng của mình. Riêng thủ pháp nghệ thuật người ta còn tiến hành đa dạng hơn nữa, bởi mỗi nghệ nhân đều có thủ pháp nghệ thuật theo trình độ sáng tạo và kinh nghiệm của riêng mình. Điều đó giải thích tại sao làng nghề cụ thể này không thay thế được làng nghề kia, nghệ nhân này không thay thế được nghệ nhân khác mặc dù các làng ấy các nghệ nhân ấy đều làm một nghề và sản xuất ra những sản phẩm cùng loại sự phát triển của khoa học công nghệ ngày nay vô cùng nhanh chóng thay thế sức lao động của con người ở nhiều công việc nặng nhọc làm tăng hiệu quả của các làng nghề VD: máy móc trong nghề mộc, vi tính trong thiết kế mẫu và vẽ hoạ tiết nghề thêu... Vốn cho sản xuất Vốn là một yếu tố quan trọng của 1 nền sản xuất hàng hoá trong các làng nghề nhu cầu về vốn phát triển sản xuất kinh doanh cũng rất khác nhau giữa các đối tượng, các thành phần kinh tế thông thường cá

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc12.doc
Tài liệu liên quan