Công ty tài chính và công ty bảo hiểm

- Mở tài khoản: Công ty tài chính được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi công ty tài chính đặt trụ sở chính và các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Việc mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép. Công ty tài chính có nhận tiền gửi phải mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và duy trì tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước.

 

- Dịch vụ ngân quỹ: Công ty tài chính được thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.

 

docx16 trang | Chia sẻ: thienmai908 | Lượt xem: 832 | Lượt tải: 0download
Nội dung tài liệu Công ty tài chính và công ty bảo hiểm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC: LỜI MỞ ĐẦU Tuy ngân hàng là một tổ chức tài chính mà chúng ta vẫn thường hay giao dịch nhất, nhưng không phải tất cả các tổ chức tài chính đều là các ngân hàng. Giả sử bạn mua bảo hiểm của một công ty bảo hiểm để phòng cho các rủi ro có thể đến với bạn hoặc vay tiền của một công ty tài chính để làm ăn hay mua cổ phiếu qua sự giúp đỡ của các nhà môi giới. Chính trong những giao dịch ấy bạn đang làm việc với một tổ chức tài chính phi ngân hàng. Trong nền kinh tế của chúng ta, các tổ chức tài chính phi ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc khơi các nguồn vốn từ những người cho vay – những người tiết kiệm tới những người vay - những người chi tiêu giống như một ngân hàng. Việc có mặt của các tổ chức tài chính phi ngân hàng góp phần làm phong phú thêm hình thức trung gian tài chính, tạo thêm nhiều cơ hội cho người muốn cho vay và người muốn vay hoàn thành mục đích của mình. Và chúng cũng thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển hơn. CÔNG TY BẢO HIỂM. Khái niệm: Công ty bảo hiểm là các trung gian tài chính thực hiện nhiệm vụ chi trả cho các sự kiện không mong đợi xảy ra với khoảng phí hay với giá cả nhất định. Phân loại: Có nhiều tiêu chí để phân loại, mỗi cách phân loại có ý nghĩa và mục đích riêng. Phân loại theo tính chất sở hữu vốn điều lệ cho công ty bảo hiểm: Công ty bảo hiểm nhà nước: là một tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lí, thực hiện kinh doanh bảo hiểm vàn hững nhiệm vụ nhà nước giao. Ví dụ: công ty bảo hiểm BIC. Công ty cổ phần bảo hiểm: là loại doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thành viên cùng góp vốn kinh doanh để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ trong phạm vi vốn góp của mình. Ví dụ: công ty cổ phần bảo hiểm AAA. Tổ chức bảo hiểm tương hỗ: là tổ chức có tư cách pháp nhân được hình thành để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên. Công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài gồm có 2 loại: công ty bảo hiểm liên doanh (Ví dụ: công ty TNHH bảo hiểm Việttinbank Aviva) và công ty bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài (ví dụ: Công ty TNHH Dai-ichi, Công tyTNHH bảo hiểm nhân thọ ACE life… ). Phân loại theo nghiệp vụ bảo hiểm: Công ty bảo hiểm nhân thọ: phát hành bảo hiểm chủ yếu cho cái chết và sức khỏe của người chủ sở hữu bảo hiểm. Công ty này cam kết chi trả một lần hay nhiều lần cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm. Ví dụ: công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential. Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn: là loại bảo hiểm cho một loạt các sự kiện không định trước khác nhau liên quan đến tài sản như sau:Mất mát, hư hỏng tài sản, mất hay thiệt hại khả năng tạo thu nhập của tài sản, thiệt hại hay gây ra cho chủ thể thứ ba khác, thiệt hại hay thương tật do tai nạn nghề nghiệp. Ví dụ: công ty cổ phần bảo hiểm Pertrolimex, công ty bảo hiểm Liberty. Điểm khác biệt chủ yếu giữa hai công ty bảo hiểm là mức độ khó khăn trong việc quyết định chi trả cho người giữ hợp đồng bảo hiểm hay không và nếu có thì chi trả bao nhiêu và như thế nào? Điều này phụ thuộc vào các chiến lược đầu tư của từng công ty bảo hiểm. Vai trò của các công ty bảo hiểm: Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất. Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng xuất phát chính từ nhu cầu này mà bảo hiểm đã ra đời. Nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng bồi thường khi có tổn thất xảy ra, và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro, hoặc bồi thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người. Tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất. Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm còn góp phần thực hiện một nội dung trong các biện pháp rủi ro. Đó là đề phòng và hạn chế mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy. Nhờ đó, những thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế - xã hội cũng được chủ động phòng tránh.  Sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào lĩnh vực khác. Trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh, người ta luôn phải tính đến những rủi ro có thể gặp phải, và luôn muốn chủ động trong tình uống xấu nhất. Việc khắc phục rủi ro đòi hỏi các cá nhân, tổ chức phải bỏ ra một khoản tiền lớn lập quỹ dự phòng. Xét trên toàn xã hội, tổng các quỹ dự phòng sẽ là một khoản tiền không nhỏ, có nhả năng sinh lợi lớn nếu đem đầu tư. Tăng thu ngân sách nhà nước. Hàng năm, thông qua việc nộp thuế, bảo hiểm đã đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, bảo hiểm đã góp phần tiết kiệm cho ngân sách thông qua việc tốt khâu phòng ngừa và hạn chế tổn thất, giúp bảo vệ tối đa tài sản công cộng, giảm đến mức thấp nhất những thiệt hại đáng tiếc. Điều này giúp nhà nước giảm bớt chi tiêu những khoản lớn để bù đắp những tổn thất như phải xây dựng đường xá, cầu cống, nhà xưởng, cong trình… ngoài ra, một thị trường bảo hiểm phát triển mạnh mẽ và ổn định sẽ thu hút các cá nhân và tổ chức mua bảo hiểm của công ty bảo hiểm trong nước, góp phần tiết kiệm một khoản ngoại tệ lớn cho ngân sách nhà nước. Tạo tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống. Khi kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì người ta càng có nhu cầu được đảm bảo an toàn cho tương lai. Môi trường kinh doanh cũng như môi trường xã hội đang dần xuất hiện những rủi ro mới. Những rủi ro thiên nhiên như bão lũ, hạn hán, cháy rừng tự nhiên… đang trở lên hết sức phức tạp. Thế giới đang biến triển hết sức phức tạp, khó đoán như chiến tranh, khủng bố, xung đột. trong tình hình như vậy, bảo hiểm chính là một giải pháp hữu hiệu, góp phần tích cực tạo ra tâm lý an tâm trong kinh doanh trong cuộc sống cho con người. Các tính chất cơ bản của ngành công nghiệp bảo hiểm. Hợp đồng và phí bảo hiểm: Hợp đồng bảo hiểm: là hợp đồng có bảo đảm luật pháp trong đó người giữ hợp đồng hay người được bảo hiểm đóng các khoản phí nhất định để các công ty bảo hiểm ( hay nhà phát hành bảo hiểm) chi trả một khoản tiền bảo đảm cho các trường hợp rủi ro cụ thể trong tương lai. Khi công ty chấp nhận hợp đồng bảo hiểm, thì hợp đồng bảo hiểm trở thành tài sản cho người được bảo hiểm ( là khách hàng của công ty bảo hiểm) và là khoảng nghĩa vụ đối với công ty bảo hiểm. Phí bảo hiểm có thể chi trả cho công ty một lần hay nhiều lần. Nếu người được bảo hiểm không đóng phí thì hợp đồng được xem như bị hủy bỏ. Công ty không thu được dòng ngân lưu phí bảo hiểm, người được bào hiểm mất đi khoản bảo đảm như trong hợp đồng đã ghi. Nếu cả hai bên cùng nối lại hợp đồng thì hợp đồng trở lại có hiệu lực. Các nguyên tắc quản trị bảo hiểm: Trong hợp đồng bảo hiểm, rủi ro đạo đức xảy ra khi hợp đồng bảo hiểm (cố ý hay vô tình) khuyến khích bên được bảo hiểm nhận lấy rủi ro để làm tăng khả năng được thanh toán tiền bảo hiểm theo hợp đồng. Do vậy, khi bán hợp đồng cho những người nay, công ty bảo hiểm đã có những tổn thất tiềm năng lớn. Rủi ro lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức tạo ra các khoản chi phí thanh toán hợp đồng cao từ các khiếu nại đòi bồi thường bảo hiểm. Do đó, cần có các biện pháp giảm thiểu rủi ro, gồm 8 nguyên tắc dưới đây: Sàng lọc Để giảm bớt sự lựa chọn đối nghịch, các công ty bảo hiểm cố gắng sàng lọc những người mang bảo hiểm rủi ro tốt khỏi những người mang bảo hiểm rủi ro tồi. Do vậy các phương thức tập hợp, phân tích thông tin có hiệu quả là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý bảo hiểm. Ví dụ: khi bạn mua một bảo hiểm sinh mạng thì nhân viên bảo hiểm sẽ hỏi bạn về sức khỏe của các bệnh tật trong quá khứ và cho khám sức khỏe để xác minh. Phí rủi ro hợp lí Đối với công ty bảo hiểm, việc thu phí bảo hiểm trên cơ sở mức độ rủi ro của một người được bảo hiểm là nguyên tắc bảo hiểm bắt buộc và đúng đắn. Chọn lựa đối nghịch giải thích vì sao nguyên tắc này lại quan trọng đến vậy đối với khả năng sinh lợi của công ty bảo hiểm. Ví dụ như hai người cùng nộp đơn xin đăng kí bảo hiểm xe ô tô, nhưng người trẻ lại phải trả phí cao hơn người già rất nhiều. Nguyên nhân mà công ty bảo hiểm làm như vậy là bởi vì người trẻ tuổi có tỉ lệ gây tai nạn cao hơn người lớn tuổi. Các điều khoản cam kết Những điều khoản hạn chế trong các hợp đồng là công cụ quản lý để giảm bớt rủi ro đạo đức. Các điều khoản này làm cho người giữ hợp đồng bảo hiểm nản lòng mà không thực hiện các hoạt động rủi ro để công ty bảo hiểm phải bồi thường. Ví dụ: trong bảo hiểm sinh mạng, có điều khoản loại bỏ tiền trợ cấp tử tuất nếu người đọc bảo hiểm tự tử. Phòng ngừa gian lận Một nguyên tắc quản lý quan trọng cho những công ty bảo hiểm là thực hiện những cuộc điều tra ngăn ngừa gian lận, để chỉ những người khiếu nại có căn cứ mới nhận được bồi thường. Có trường hợp những người không tuân theo các quy định của hợp đồng nhưng vẫn muốn có tiền bồi thường bảo hiểm hay khiếu nại về những việc vô căn cứ. Huỷ bỏ bảo hiểm Sẵn sàng huỷ bỏ các hợp đồng là 1 công cụ quản lý bảo hiểm khác. Các công ty bảo hiểm có thể kiềm chế rủi ro đạo đức nếu họ đe doạ huỷ bỏ 1 hợp đồng khi người được bảo hiểm có những hoạt động mà dễ khiếu nại đòi bồi thường như là vi phạm hợp đồng. Khoản khấu trừ Khoản khấu trừ là 1 khoản tiền cố định được khấu trừ từ tổn thất của người được bảo hiểm khi được thanh toán. Khoản khấu trừ khiến cho người được bảo hiểm hành động phù hợp hơn với những gì có lợi cho công ty mà người đó mua bảo hiểm; tức là, rủi ro đạo đức được giảm xuống. Do rủi ro đạo đức được giảm, nên chi phí bảo hiểm của công ty đã hạ thấp hơn cả so với mức phải bồi thường là nhờ tác dụng của khoản khấu trừ. Ví dụ: khấu trừ 500.000 đồng trong hợp đồng bảo hiểm có nghĩa là khi bạn bị thiệt hại 2 triệu thì công ty chỉ thanh toán1.500.000 thôi. Đồng bảo hiểm Khi 1 người được bảo hiểm cùng gánh chịu 1 tỷ lệ tổn thất với công ty bảo hiểm, sự dàn xếp như thế được gọi la đồng bảo hiểm. Đồng bảo hiểm là một công cụ quản lí khác rất hữu ích cho các công ty bảo hiểm. Ví dụ: một số chương trình bảo hiểm y tế, công ty bảo hiểm nhận chi trả 80% và người mua bảo hiểm phải trả 20% chi phí còn lại trong hóa đơn tiền khám chữa bệnh. Những giới hạn của số tiền bảo hiểm Một nguyên tắc quan trọng khác của việc quản lý bảo hiểm là có những giới hạn đối với số tiền thanh toán bảo hiểm Mặc dù khách hàng sẵn lòng được chi trả nhiều hơn để có thêm tiền bồi thường. Ví dụ: với một bảo hiểm sinh mạng 1 triệu đôla, người mua bảo hiểm có thể liều mình chết vì biết rằng gia đình họ sẽ giàu lên khi người đó chết. Nhưng mà nếu bảo hiểm đó chỉ trị giá 10.000 đôla, thì người đó sẽ cẩn thận hơn khi biết mình chết đi sẽ không được lợi gì cả. Các công ty bảo hiểm phải luôn luôn đảm bảo rằng tiền bồi thường bảo hiểm của họ không cao đến mức để rủi ro đạo đức dẫn đến các tổn thất lớn. Vài nét về các công ty bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay: Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm Việt Nam thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang được đa dạng hóa với tốc độ cao, sức ép mở cửa thị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn. Thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung và lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, cũng ngày càng được mở rộng với sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế vào việc kinh doanh dịch vụ bảo hiểm. Tính đến nay, Việt Nam đã có 28 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 11 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động. Ngoài ra, còn có sự hiện diện của hơn 33 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm và công ty môi giới bảo hiểm nước ngoài.Một số công ty bảo hiểm tuy mới đi vào hoạt động nhưng cũng đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao như Bảo Minh, Prudential, PJICO. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhất là  trong thời gian 5 năm gần đây tăng khoảng 22%, (theo báo cáo đánh giá của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) đã cho thấy thế mạnh và bước đột phá lớn của ngành bảo hiểm Việt Nam. Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng mạnh thông qua vốn chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ làm cho khả năng thanh toán và mức giữ lại của từng doanh nghiệp bảo hiểm nâng lên rõ rệt, tăng khả năng nhận tái bảo hiểm từ đó tạo ra nguồn vốn lớn để đầu tư lại cho nền kinh tế quốc dân. Tính đến năm 2011, bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục tăng trưởng 25% ước đạt doanh thu 21.500 tỉ đồng, tốc độ có giảm chút ít so với năm 2010 do ảnh hưởng của thắt chặt tín dụng và nợ công. Bảo hiểm nhân thọ duy trì với tốc độ tăng trưởng 17% ước đạt doanh thu 16.000 tỉ đồng, vừa bảo vệ rủi ro trong tham gia bảo hiểm vừa là hình thức thu hút tiền nhàn rỗi của dân cư vào đầu tư trung dài hạn phát triển kinh tế xã hội phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa. Toàn ngành bảo hiểm đã đầu tư 100.000 tỉ đồng bằng vốn chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ vào nền kinh tế quốc dânkhẳng định vai trò thứ hai của bảo hiểm: là công cụ tài chính huy động vốn của nhà nước cho nền kinh tế xã hội. Tóm lại, ngành bảo hiểm của Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc trong những năm qua và đã dần khẳng định trên thị trường quốc tế. CÔNG TY TÀI CHÍNH 1. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH. 1.1. Khái niệm về công ty tài chính Công ty Tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm. (Điều 2, chương 1 , nghị định số 79/2002/NĐ-CP). 1.2. Đặc điểm của các công ty tài chính. Bản chất và phạm vi hoạt động. Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm. Mức vốn pháp định. Công ty tài chính và ngân hàng đều phải có vốn pháp định, song vốn pháp định của công ty tài chính thấp hơn ngân hàng. Theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP, ngày 22/11/2006 của Chính phủ, công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày Nghị định 141/2006/NĐ- CP của Chính phủ có hiệu lực và trước ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là 300 tỷ đồng; công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là 500 tỷ đồng. Loại hình tổ chức hoạt động. Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ phân chia công ty tài chính thành các loại: công ty tài chính nhà nước, công ty tài chính cổ phần, công ty tài chính trực thuộc các tổ chức tín dụng, công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn nước ngoài. Cách phân chia này hiện không còn thích hợp với Luật Doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam. Theo dự thảo sửa đổi Nghị định hướng dẫn của Chính phủ, quy định công ty tài chính chỉ được thành lập theo một trong ba loại hình sau: công ty tài chính TNHH một thành viên; công ty tài chính TNHH hai thành viên trở lên và công ty tài chính cổ phần Thời gian hoạt động. Thời hạn hoạt động của công ty tài chính tối đa là 50 năm. Trường hợp cần gia hạn thời hạn hoạt động, phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận, nhưng mỗi lần gia hạn không quá 50 năm. Cơ hội cạnh tranh và lợi ích mang lại. Các công ty tài chính huy động vốn bằng cách phát hành thường phiếu hay trái phiếu hay vay từ ngân hàng. Sau đó họ dùng số tiền có đượ c đem cho vay (thường là các khoản cho vay nhỏ hơn thích hợp với tiêu dùng và các nhu cầu kinh doanh). Có thể mô tả hình tượng hơn là họ vay các khoản lớn và cho vay với qui mô nhỏ. Đây chính là điểm khác biệt với hoạt động ngân hàng là huy động các tài khoản nhỏ và cho vay các khoản lớn. Đặc điểm chính của công ty tài chính là mặc dù họ cũng cho các khách hàng này vay, đồng thời cũng là khách hàng của các ngân hàng thương mại. Các công ty có lợi thế về tính năng động và tự do trong hoạt động. Ví dụ: tại hoa kỳ, chính phủ điều hành và qui định về qui mô số tiền công ty tài chính có thể cho vay và thời hạn cho vay nhưng không hạn chế về việc lập chi nhánh, quy định về các tài khoản phả giữ hay qui định phải làm thế nào để huy động vốn . Tạo điều kiện cho các công ty tài chính điều chỉnh các khoản cho vay của mình cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng tốt hơn trong các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác. Mặc dù các công ty tài chính thường thực hiện các khoản cho vay với rủi ro cao nhưng nhìn chung vẫn thu được lợi nhuận vì họ có thể áp đặt mức thuế suất cao hơn cho các khoản vay rủi ro đó. Như vậy, có thể thấy lợi ích của công ty tài chính mang lại cho các doanh nghiệp là rất lớn. Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, các tập đoàn lớn thường có ít nhất một công ty tài chính. Công ty tài chính là công cụ để tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi nhất. Trong phạm vi nội bộ tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn bó, công ty tài chính có thể dễ dàng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư. Với tính nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ công ty tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn lớn cho các dự án quan trọng trong nội bộ tập đoàn. 2. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH. Các công ty tài chính có nhiều hoạt động, mỗi công ty có những nét giống và những nét đặc trưng riêng biệt của công ty mình. Các hoạt động chủ yếu thường thấy ở công ty tài chính là: hợp tác đầu tư, hoạt động thu xếp vốn, huy động vốn, dịch vụ tài chính, dịch vụ ủy thác vốn đầu tư, tín dụng cá nhân và doanh nghiệp, kinh doanh ngoại hối, chiết khấu giấy tờ có giá,bao thanh toán, bão lãnh….. Các công ty tài chính có nguồn vốn tự có chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn, còn lại chủ yếu do huy động, vốn đi vay và vốn khác. Trong đó huy động vốn chiếm tỷ lệ lớn nhất. Vì vậy vấn đề huy động vốn là yếu tố hết sức quan trọng quyết định đến sự phát triển và mở rộng kinh doanh, giúp tạo dựng nguồn vốn vững chắc, ổn định đáp ứng nhu cầu kinh doanh của công ty đặc biệt là vốn trung và dài hạn. 2.1. Hoạt động huy động vốn. Vốn là yếu tố quan trọng, do vậy, việc huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau là rất cần thiết cho sự ổn định và phát triển của công ty. Các hoạt động huy động vốn của công ty tài chính: Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, và các loại giấy tờ có giá khác để huy động vốn của cá nhân trong và ngoài nước của pháp luật hiện hành. Vay các tổ chức tín dụng, tài chính trong nước, ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế. Tiếp nhận vốn ủy thác của chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước. 2.2. Hoạt động cho vay. Theo nghị định 79/2002/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính ban hành ngày 04/10/2002, có hiệu lực ngày 19/10/2002: Công ty Tài chính được cho vay dưới các hình thức: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Cho vay theo uỷ thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định hiện hành của Luật Các tổ chức tín dụng và hợp đồng uỷ thác. Cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay mua trả góp. Công ty tài chính có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn trên cơ sở cân đối nguồn vốn trung và dài hạn, không sử dụng vốn vay ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống. 2.3. Hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác Công ty tài chính được cấp tín dụng dưới hình thức chiết  khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với các tổchức và cá nhân. Công ty tài chính được tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác với các tổ chức tín dụng khác. 2.4. Bảo lãnh. Công ty tài chính được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Việc bảo lãnh của công ty tài chính phải được thực hiện theo quy định tại Điều 58, Điều 59, Điều 60 Luật Các Tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.  Công ty tài chính được cấp tín dụng dưới các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. 2.5. Mở tài khoản và dịch vụ ngân quỹ. Mở tài khoản: Công ty tài chính được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi công ty tài chính đặt trụ sở chính và các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Việc mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép. Công ty tài chính có nhận tiền gửi phải mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và duy trì tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước. Dịch vụ ngân quỹ: Công ty tài chính được thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng. 2.6. Các hoạt động khác. Công ty tài chính được thực hiện các hoạt động khác sau đây:      - Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác;           - Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng;           - Tham gia thị trường tiền tệ;           - Thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng;                    - Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các doanh nghiệp;           - Được quyền nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng; Cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho khách hàng; Cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác. Công ty tài chính được thực hiện các nghiệp vụ dưới đây sau khi được Ngân hàng Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan cho phép: Hoạt động ngoại hối;    Hoạt động bao thanh toán;    Các hoạt động khác. 3. CÁC DẠNG CÔNG TY TÀI CHÍNH 3.1. Các công ty bán hàng: Các công ty sản xuất và bán hàng làm chủ sở hữu và thực hiện các khoản cho vay tài trợ cho khách hàng mua các sản phẩm và hàng hóa dịch vụ của chính công ty. Ví dụ hệ thống bán lẻ sears tài trợ cho khách hàng mua các dịch vụ và hàng hóa tại các của hàng của Sears, GM tài trợ cho khách hàng mua ô tô của GM. Công ty tài chính bán buôn cạnh tranh trực tiếp với các ngận hàng về các khoản cho vay tiêu dùng và có được khá nhiều khách hàng bởi vì các khoản vay được thực hiện nhanh và tiện lợi hơn ngay tại địa điểm mua hàng. 3.2. Các công ty tài chính tiêu dùng. Thực hiện các khoản cho vay cho khách hàng mua các loại hàng hóa cụ thể. Các công ty tài chính tiêu dùng là các doanh nghiệp riêng biệt hay các ngân hàng là chủ sở hữu. thông thường các công ty này cho các khách hàng không có khả năng vay từ các nguồn khác và định tỷ lệ lãi suất cao hơn. 3.3. Các công ty tài chính doanh nghiệp. Cung cấp các hình thức tín dụng chuyên biệt cho các doanh nghiệp bằng cách thực hiện các khoản cho vay và tài khoản mua bán (hóa đơn là thuộc về các công ty khách hàng) với chiết khấu: dạng tín dụng này được gọi là factoring. Ví dụ một xí nghiệp may mặc có hóa đơn chưa thanh toán từ các hàng bán lẻ đã mua hàng từ xí nghiệp vơi giá trị 100.000 doola. Nếu xí nghiệp này cần tiền ngay dể mua trang thiết bị, họ có thể bán tài khoản thanh toán này cho công ty tài chính với giá ví dụ 90.000 dola và giao quyền thu lại số nợ 100.000 dola cho công ty tài chính. Ngoài nghiệp vụ factoring, công ty tài chính doanh nghiệp còn chuyên môn hóa vào cho thuê trang thiết bị, máy móc mà họ mua về cho các doanh nghiệp vay trong một khoản thời gian nào đó. Tài liệu có tham khảo tại:

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxthuyết trình tài chính tiền tẹe.docx